Tây Đô Vương Trịnh Tạc (1657 – 1682)

– Con trưởng của Trịnh Tráng.

– Tháng 9 năm Nhâm Ngọ (1642), được phong làm Tây Quận Công. Tháng 4 năm Ất Dậu (1645), được phong làm Thái uý, Tây Quốc Công. Được chọn là Nguyên súy chưởng quốc chính Tây Định Vương từ năm Quý Tỵ (1653) khi Trịnh Tráng đang còn sống. Sự không chọn Trịnh Toàn là con trưởng để nối ngôi chúa đã dẫn đến mâu thuẫn ngấm ngầm giữa Toàn và Tạc.

– Nối ngôi chúa từ tháng 4 năm Đinh Dậu (1657).

– Tháng 9 năm Kỉ Hợi (1659), tự phong làm Thượng sư Tây vương.

– Tháng 4 năm Mậu Thân (1668), tự phong làm Đại Nguyên soái, Thượng sư thái phụ Tây Đô Vương.

– Năm Nhâm Tý (1672), ép vua Lê đem quân vào đánh Chúa Nguyễn ở Châu Bố Chính, quân Trịnh chiếm được lũy Trấn Ninh, huy động 3 vạn quân vượt sông Gianh đánh vào cửa Nhật Lệ. Quân Nguyễn ra sức chống cự, Trịnh Tạc phải rút đại binh về chỉ để Lê Thời Hiến trấn giữ Nghệ An, từ đó Đàng Ngoài và Đàng Trong tạm ngừng chiến, lấy sông Gianh làm giới tuyến.

– Tháng 7 năm Giáp Dần (1674), Trịnh Tạc xin vua Lê phong cho con là Trịnh Căn làm Nguyên soái.

– Mất vào tháng 5 năm Nhâm Tuất (1682), thọ 77 tuổi, ở ngôi chúa 25 năm.

Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (1623 – 1657)

– Con trưởng của Trịnh Tùng.

– Tháng 2 năm Mậu Tuất (1598) được phong làm Bình Quận Công, sau đổi là Thanh Quận Công.

– Mạc Kính Khoan đánh chiếm xứ Cao Bằng nghe tin Trịnh Tùng chết, các con đánh nhau để giành ngôi chúa, liền từ Cao Bằng kéo quân xuống Gia Lâm, Trịnh Tráng phải rước vua Lê chạy vào Thanh Hóa. Tháng 8 năm Quý Hợi (1623), Tráng đem quân phá tan quân của Kính Khoan, Kính Khoan một mình chạy thoát thân. Tráng rước vua Lê trở lại kinh đô. Tháng 11 năm Quý Hợi (1623) tự phong làm Nguyên soái, Tổng quốc chính, Thanh Đô Vương.

– Năm Ất Dậu (1645), Tráng xin vua Lê phong cho con thứ hai là Tây Quận công Trịnh Tạc làm Khâm sai tiết chế các sứ thủy bộ chủ dinh chương quốc quyền bính, Tả tướng Thái úy Tây Quốc công và được quyền nối ngôi chúa.

– Tháng 10 năm Đinh Mão (1651) tự phong làm Sư phụ. Thanh Vương.

– Tháng 10 năm Dinh Mão (1651) được nhà Minh phong làm Phó quốc vương.

– Mất vào tháng 4 năm Đinh Dậu (1657), thọ 81 tuổi, ở ngôi chúa 30 năm.

Bình An Vương Trịnh Tùng (1570 – 1623)

– Con thứ của Trịnh Kiểm, trước đó đã được phong là Từ Phúc Lương Hầu.

– Giành được ngôi chúa từ tay Trịnh Cối vào tháng 8 năm Canh Ngọ (1570), được vua Lê phong làm Trưởng Quận Công, Tiết Chế thuỷ bộ chư dinh.

– Tháng 1 năm Quý Dậu (1573), tự phong là Đô tướng tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại binh chương quân quốc trọng sự. Ít lâu sau lại tự phong làm Đô nguyên soái Tổng quốc chính, Thượng phụ Bình An Vương. Năm Ất Mùi (1595), Trịnh Tùng đón vua Lê vào Thăng Long và bắt đầu tổ chức bộ máy cai trị theo bậc đế vương. Trịnh Tùng cho lập phủ liêu riêng gồm đủ cả lục phiên tương đương với lục bộ của triều Vua.

– Mất vì bệnh vào tháng 6 năm Quý Hợi (1623), cầm quyền 53 năm, thọ 74 tuổi.

Trịnh Cối (1569 – 1570)

– Con trưởng của Trịnh Kiểm, trước đó đã được phong làm Tuấn Đức Hầu.

– Được Trịnh Kiểm truyền ngôi chúa từ tháng 10 năm Kỉ Tị (1569), nhưng ngay sau đó bị em là Trịnh Tùng đem quân đến đánh để giành quyền. Cuộc tranh giành xảy ra quyết liệt nhất vào tháng 4 năm Canh Ngọ (1570).

– Tháng 8 năm Canh Ngọ (1570), Trịnh Cối đầu hàng nhà Mạc, mất năm Giáp Thân (1584).

Thế Tổ Minh Khang Vương Trịnh Kiểm (1545 – 1569)

– Truyện kể rằng Trịnh Kiểm nương nhờ làm gia tướng cho Nguyễn Kim. Tuy không được học hành nhiều nhưng rất thông minh, can đảm và mưu lược hơn người. Nguyễn Kim mến tài nên đem con gái là Ngọc Bảo gả cho Trịnh Kiểm. Năm 1533, sau khi đón Duy Ninh về lập làm vua Lê Trang Tông, Trịnh Kiểm được phong làm Đại Tướng quân. Năm Ất Tỵ (1545), Nguyễn Kim bị đánh thuốc độc chết, binh quyền về tay Trịnh Kiểm.

– Tháng 1 năm Ất Tị (1545), sau khi Nguyễn Kim mất, được phong làm Đô tướng tiết chế thuỷ bộ chư dinh. Nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, chức là Thái sư, tước là Lạng Quốc Công. Năm Kỷ Tỵ (1569), vua Lê gia phong cho Trịnh Kiểm làm Thượng tướng Thái Quốc Công và tôn làm Thượng phụ.

– Làm chúa cho đến tháng 10 năm Kỉ Tị (1569) thì nhường ngôi chúa cho con trưởng là Trịnh Cối.

– Mất vào tháng 2 năm Canh Ngọ (1570), được truy tôn là Minh Khang Thái Vương, thụy là Trung Huân. Trịnh Kiểm nắm quyền Nam Triều 26 năm, trải qua 3 đời vua, thọ 68 tuổi.

Thế thứ thời suy tàn của nhà Mạc

Sau khi Mạc Mậu Hợp bị giết, triều Mạc tan rã. Một số tôn thất của nhà Mạc đã tập hợp tàn binh, quyết chống đối nhà Lê đến cùng. Hoạt động của nhà Mạc lúc này tập trung chủ yếu ở khu vực tỉnh Cao Bằng ngày nay.

Điều đáng tiếc là tiềm lực của nhà Mạc không còn gì đáng kể nữa nhưng có lúc, nhà Mạc lại có tới những hai vua. Các vua sau này của nhà Mạc đều không có miếu hiệu nên chúng tôi theo sử cũ mà chép theo họ và tên thật. Sau Mạc Mậu Hợp. nhà Mạc còn có 5 vua sau đây:

1 – Mạc Toàn (1592 – 1593)

– Được cha là Mạc Mậu Hợp truyền ngôi vào tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592).

– Bị Trịnh Tùng bắt vào tháng 1 năm Quý Tị (1593) và bị giết cùng với  Mạc Kính Chỉ.

– Niên hiệu khi ở ngôi là Vũ.

2 – Mạc Kính Chỉ (1592 – 1593)

– Mạc Kính Chỉ là con của Mạc Kính Điển. cháu nội của vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải).

– Lên ngôi ngay sau khi Mạc Mậu Hợp bị bắt và bị giết. Ở ngôi đến tháng 1 năm Quý Tị (1593) thì bị Trịnh Tùng bắt và giết.

– Niên hiệu khi ở ngôi là Bảo Định (1592) và Khang Hựu (1593 – vừa  đặt thì bị bắt và bị giết).

3 – Mạc Kính Cung (1593 – 1625)

– Tự lập làm vua năm Quý Tị (1593), ở ngôi cho đến năm Ất Sửu (1625), tổng cộng 32 năm.

– Bị Trịnh Tráng bắt giết vào tháng 5 năm 1625.

– Niên hiệu khi ở ngôi là Càn Thống.

4 – Mạc Kính Khoan (1623 – 1638)

– Tự lập làm vua ngay khi Mạc Kính Cung còn sống.

– Mất vì bệnh vào tháng 3 năm Mậu Dần (1638), chưa rõ thọ bao nhiêu tuổi. Ở ngôi 15 năm (1623 – 1638).

– Niên hiệu khi ở ngôi là Long Thái.

– Trước đó vào năm Ất Sửu (1625), Mạc Kính Khoan đã vì thế cô mà xin đầu hàng chúa Trịnh Tráng. Nhưng rồi từ khi về lại với đất Cao Bằng, Mạc Kính Khoan liến lập phủ đệ và sau đó xưng đế như cũ. Bởi sự kiện này, nhiều sách chép về Mạc Kính Khoan chỉ đến năm 1625 mà thôi.

5 – Mạc Kính Vũ (1638 – 1677)

– Mạc Kính Vũ là con của Mạc Kính Khoan. Kính Vũ còn có tên khác là Kính Hoàn.

– Nối ngôi Mạc Kính Khoan kể từ năm Mậu Dần (1638).

– Ở ngôi 39 năm. Đầu năm Đinh Tị (1677), bị chúa Trịnh Tạc đánh, phải chạy sang Trung Quốc, sau không rõ sống chết ra sao.

– Cũng tương tự như cha, tháng 9 năm Đinh Mùi (1667), vì thế cô, Mạc Kính Vũ đã đầu hàng chúa Trịnh Tạc, nhưng sau Mạc Kính Vũ lại tổ chức lực lượng để chống lại chúa Trịnh. Bởi lẽ này, nhiều sách chỉ chép Mạc Kính Vũ đến năm 1667 là dứt.

– Niên hiệu khi ở ngôi là Thuận Đức (1638 – 1677).

Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592)

– Mạc Mậu Hợp là họ và tên thật, nhưng vị vua thứ năm này của nhà Mạc sau vì bị giết nên theo điển lễ xưa, không được đặt miếu hiệu. Sử cũ theo đúng điển lễ cổ mà chép thế thứ theo họ tên thật của vua.

– Mạc Mậu Hợp là con trưởng của Tuyên Tông (Mạc Phúc Nguyên), thân mẫu là ai, sinh năm nào chưa rõ.

– Lên ngôi tháng 1 năm Nhâm Tuất (1562), ở ngôi 31 năm (1562 – 1592), bị Trịnh Tùng giết chết vào tháng 12 năm Nhâm Thìn (1592), thọ bao nhiêu tuổi chưa rõ.

– Trong thời gian 31 năm ở ngôi, Mạc Mậu Hợp đã đặt sáu niên hiệu sau đây:

  • Thuần Phúc: 1562 – 1565
  • Sùng Khang: 1566 – 1577
  • Diên Thành: 1578 – 1585
  • Đoan Thái: 1586 – 1587
  • Hưng Trị: 1588 – 1590
  • Hồng Ninh: 1591 – 1592.

Mạc Tuyên Tông (1546-1561)

– Họ và tên: Mạc Phúc Nguyên.

– Tuyên Tông là con trưởng của Hiến Tông (Mạc Phúc Hải), thân mẫu là ai sinh năm nào chưa rõ.

– Lên ngôi tháng 5 năm Bính Ngọ (1546), mọi việc triều chính đều do chú ruột là Khiêm Vương Mạc Kính Điển nắm giữ. Vua ở ngôi 15 năm (1546 – 1561), mất vào tháng 12 năm Tân Dậu (1561), chưa rõ thọ bao nhiêu tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Mạc Tuyên Tông đã đặt 3 niên hiệu sau đây:

  • Vĩnh Định: 1547
  • Cảnh Lịch: 1548 – 1553
  • Quang Bảo: 1554 – 1561.

Mạc Hiến Tông (1540 – 1546)

– Họ và tên: Mạc Phúc Hải.

– Hiến Tông là con trưởng của Thái Tông (Mạc Đăng Doanh), thân mẫu là ai, sinh năm nào chưa rõ.

– Lên ngôi cuối tháng 1 năm Canh Tí (1540), ở ngôi 6 năm (1540 -1546), mất ngày 8 tháng 5 năm Bính Ngọ (1546), nay chưa rõ thọ bao nhiêu tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Mạc Hiến Tông có đặt một niên hiệu là Quảng Hoà (1540 – 1546).

Mạc Thái Tông (1530 – 1540)

– Họ và tên: Mạc Đăng Doanh.

– Thái Tông là con trưởng của Mạc Thái Tổ, thân mẫu là ai, chào đời năm nào thì chưa rõ.

– Được truyền ngôi ngày 1 tháng 1 năm Canh Dần (1530), ở ngôi 10 năm (1530 – 1540), mất ngày 15 tháng 1 năm Canh Tí (1540), không rõ thọ bao nhiêu tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Thái Tông có đặt một niên hiệu là Đại Chính (1530 – 1540).

Mạc Thái Tổ (1527 – 1529)

– Họ và tên: Mạc Đăng Dung.

– Nguyên quán: Cổ Trai, Nghi Dương (nay thuộc Hải Phòng). Là cháu bảy đời của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, có phụ thân là Mạc Hịch, mẫu thân là Đặng Thị Hiến.

– Thuở nhỏ Mạc Đăng Dung sống bằng nghề đánh cá, sau thi đỗ lực sĩ. Đời Lê Tương Dực (1509 – 1516), Mạc Đăng Dung giữ chức Đô chỉ huy sứ, tước Vũ Xuyên Bá. Năm 1516, Mạc Đăng Dung được cử làm trấn thủ Sơn Nam với chức Phó tướng Tả Đô đốc. Mạc Đăng Dung làm quan trải ba triều (Tương Dực, Chiêu Tông và Cung Hoàng). Thời Lê Cung Hoàng (1522 – 1527), Mạc Đăng Dung được phong làm Thái sư Nhân Quốc Công rồi đến An Hưng Vương.

– Tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung cướp ngôi của nhà Lê, làm vua từ tháng 6 năm 1527 đến tháng 12 năm Kỉ Sửu (1529) thì nhường ngôi cho con để làm Thượng hoàng.

– Mạc Đăng Dung sinh năm Quý Mão (1483) mất ngày 22 tháng 8 năm Tân Sửu (1541), thọ 58 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Mạc Đăng Dung có đặt một niên hiệu là Minh Đức (1527 – 1529).

Lê Chiêu Thống (1786 – 1788)

– Họ và tên: Lê Duy Kỳ, lại có tên khác là Lê Tư Khiêm.

– Chiêu Thống là con trưởng của Thái tử Lê Duy Vĩ, tức là cháu đích tôn của Lê Hiển Tông. Thái tử Lê Duy Vĩ vì trước đó phạm tội, bị phế làm thứ dân nên không được truyền ngôi. Thân mẫu của Lê Chiêu Thống hiện chưa rõ.

– Lê Chiêu Thống sinh năm Ất Dậu (1765), lên ngôi tháng 8 năm Bính Ngọ (1786). Khi Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ rút quân về Phú Xuân thì Trịnh Bồng cũng trở lại Thăng Loang, tự lập làm Nguyên Soái Án Đô Vương và lấn át Vua như trước. Nguyễn Huệ lại đưa quân ra Bắc dẹp loạn, lấy Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận làm giám quốc và giao Ngô Văn Sở làm Đại Đô đốc ở Thăng Long. Để khôi phục lại Lê Chiêu Thống, tháng 7 năm 1788, Hoàng Thái hậu nhà Lê sang cầu viện nhà Thanh. Mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn do Hoàng đế Quang Trung trực tiếp chỉ huy đã đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược. Lê Chiêu Thống theo tàn quân lưu vong sang Trung Quốc.

– Vua ở ngôi 2 năm, sau mất vì bệnh khi đang sống lưu vong tại Trung Quốc vào tháng 10 năm Quý Sửu (1793), thọ 28 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, vua có đặt một niên hiệu là Chiêu Thống (1786 – 1788).

Lê Hiển Tông (1740 – 1786)

– Họ và tên: Lê Duy Diêu.

– Vua là con trưởng của Lê Thuần Tông, gọi Lê Ý Tông là chú ruột, được Lê Ý Tông truyền ngôi cho, thân mẫu là Đào Thị, quán xã Bảo Vực, huyện Văn Giang (tỉnh Hưng Yên).

– Vua sinh vào tháng 4 năm Đinh Dậu (1717), được truyền ngôi ngày 21 tháng 5 năm Canh Thân (1740). Tháng Giêng năm 1764, Vua lập Duy Vĩ làm Thái tử. Năm 1767 Trịnh Giang mất, Trịnh Sâm lên thay làm Nguyên soái Tĩnh Đô Vương, tháng 3 năm 1769, Trịnh Sâm truất ngôi Thái tử của Duy Vĩ rồi giam vào ngục. Tháng 8 năm 1769, Trịnh Sâm giả mệnh Vua truất Thái tử làm thứ dân rồi giam vào ngục, lập con thứ của Hiển Tông làm Thái tử.

– Vua ở ngôi 46 năm, mất vào tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), thọ 69 tuổi.

– Trong thời gian 46 năm ở ngôi, Lê Hiển Tông chỉ đặt một niên hiệu là Cảnh Hưng (1740 – 1786).

Lê Ý Tông (1735 – 1740)

– Họ và tên: Lê Duy Thận, lại có tên là Duy Chấn.

– Vua là con thứ 11 của Lê Dụ Tông, em ruột của Lê Thuần Tông (Duy Tường), thân mẫu chưa rõ.

– Vua sinh vào tháng 2 năm Kỉ Hợi (1719), lên ngôi ngày 27 tháng 4 năm Ất Mão (1735), ở ngôi 5 năm (1735 – 1740), nhường ngôi để làm thượng hoàng 19 năm (1740 – 1759), mất vào tháng 6 (nhuận) năm Kỉ Mão (1759), thọ 40 tuổi.

– Trong thời gian 5 năm ở ngôi, Lê Ý Tông chỉ đặt một niên hiệu là Vĩnh Hựu (1735 – 1740).

Lê Thuần Tông (1732 – 1735)

– Họ và tên: Lê Duy Tường.

– Vua là con trưởng của Lê Dụ Tông, anh của Lê Đế Duy Phường, thân mẫu người họ Nguyễn.

– Vua sinh vào tháng 2 năm Kỉ Mão (1699), lên ngôi ngày 26 tháng 8 năm Nhâm Tí (1732), ở ngôi 3 năm, mất vào ngày rằm tháng 4 năm Ất Mão (1735), thọ 36 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Lê Thuần Tông có đặt một niên hiệu là Long Đức (1732 – 1735).

Lê Đế Duy Phường (1729 – 1732)

– Họ và tên: Lê Duy Phường.

– Vua là con thứ của Lê Dụ Tông. thân mẫu người họ Trịnh.

– Vua sinh năm Kỉ Sửu (1709), được lập làm Thái tử từ ngày 8 tháng 7 năm Đinh Mùi (1727), lên ngôi ngày 21 tháng 4 năm Kỉ Dậu (1729), ở ngôi 3 năm, bị chúa Trịnh là Trịnh Khương (tức Trịnh Giang) phế làm Hôn Đức Công ngày 15 tháng 8 năm Nhâm Tí (1732), đến tháng 9 năm Ất Mão (1735) thì bị giết, thọ 26 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Lê Đế Duy Phường có đặt một niên hiệu Vĩnh Khánh (1729 – 1732).

Lê Dụ Tông (1705 – 1729)

– Họ và tên: Lê Duy Đường.

– Vua là con trưởng của Lê Hy Tông, thân mẫu là thái hậu họ Nguyễn, huý là Nguyễn Thị Ngọc Đệ, quán xã Trùng Quán, huyện Đông Ngàn (nay thuộc Bắc Ninh).

– Vua sinh tháng 10 năm Canh Thân (1680), lên ngôi tháng 4 năm 1705, ở ngôi 24 năm (1705 – 1729), nhường ngôi để làm thượng hoàng 2 năm (1729 – 1731), mất vào tháng 1 năm Tân Hợi (1731), thọ 51 tuổi.

– Trong thời gian 24 năm ở ngôi, Lê Dụ Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Vĩnh Thịnh: 1705 – 1720
  • Bảo Thái: 1720 – 1729.

Lê Hy Tông (1675 – 1705)

– Họ và tên: Lê Duy Hiệp (còn tên khác là Duy Cáp)

– Vua là con của Lê Thần Tông, khi Lê Thần Tông mất, vua vẫn chưa chào đời. Vua là em của Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông và Lê Gia Tông. Thân mẫu của vua là bà Trịnh Thị Ngọc Trúc (cũng có sách viết là Trịnh Thị Ngọc Tấn), con gái của chúa Trịnh Tráng.

– Vua sinh ngày 15 tháng 3 năm Quý Mão (1663), được Tây Vương Trịnh Tạc đưa lên ngôi ngày 12 tháng 6 năm 1675, ở ngôi 30 năm

– Vua nhường ngôi cho con trưởng để lên làm thượng hoàng 11 năm (1705 – 1716), mất tháng 4 năm Bính Thân (1716), thọ 53 tuổi.

Trong thời gian ở ngôi, Lê Hy Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Vĩnh Trị: 1676 – 1679
  • Chính Hoà: 1680 – 1705.

Lê Gia Tông (1671 – 1675)

– Họ và tên: Lê Duy Cối, lại có tên khác là Lê Duy Khoái.

– Vua là con thứ của Lê Thần Tông, em của vua Lê Chân Tông và Lê Huyền Tông. Thân mấu của vua là bà Chiêu Nghi Lê Thị Ngọc Hoàn. Thuở nhỏ, vua được bà chính phi của chúa Trịnh Doanh là Trịnh Thị Ngọc Lung nuôi dưỡng, nên khi vua lên ngôi, mẹ nuôi được tôn là Quốc Thái Mẫu, còn mẹ sinh chỉ được tôn là Chiêu Nghi.

– Vua sinh năm Tân Sửu (1661), được lên nối ngôi ngày 19 tháng 11 năm Tân Hợi (1671), ở ngôi 4 năm, mất ngày mồng 3 tháng 4 năm Ất Mão (1675), thọ 14 tuổi, không có con để nối dõi.

– Trong thời gian ở ngôi, vua có đặt hai niên hiệu là:

  • Dương Đức: 1672 – 1674
  • Đức Nguyên: 1674 – 1675

Lê Huyền Tông (1662 – 1671)

– Họ và tên: Lê Duy Vũ.

– Vua là con thứ của vua Lê Thần Tông, em của vua Lê Chân Tông, thân mẫu là Phạm Hoàng hậu, huý là Phạm Thị Ngọc Hậu.

– Vua sinh năm Giáp Ngọ (1654), được lập làm thái tử từ tháng 9 năm Nhâm Dần (1662), lên ngôi tháng 11 năm 1662.

– Vua ở ngôi 9 năm, mất ngày 15 tháng 10 năm Tân Hợi (1671), thọ 17 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, vua chỉ đặt một niên hiệu là Cảnh Trị (1663 – 1671).

Lê Chân Tông (1643 – 1649)

– Họ và tên: Lê Duy Hựu.

– Vua là con trưởng của Lê Thần Tông, thân mẫu là Trịnh Thái hậu (không rõ tên).

– Vua sinh năm Canh Ngọ (1630), được truyền ngôi tháng 10 năm Quý Mùi (1643), ở ngôi 6 năm, mất vào tháng 8 năm Kỉ Sửu (1649), thọ 19 tuổi. Vua không có con nối dõi.

– Trong thời gian 6 năm ở ngôi, vua có đặt một niên hiệu là Phúc Thái (1643 – 1649).

Lê Thần Tông (1619 – 1643 và 1649 – 1662)

– Họ và tên: Lê Duy Kỳ.

– Vua là con trưởng của Lê Kính Tông, thân mẫu là Đoan Từ Hoàng Thái hậu, huý là Trịnh Thị Ngọc Trinh (con gái thứ của Bình An Vương Trịnh Tùng).

– Vua sinh ngày 19 tháng 11 năm Đinh Mùi (1607).

– Vua hai lần lên ngôi.

  • Lần thứ nhất lên ngôi vào tháng 6 năm Kỉ Mùi (1619), sau khi vua cha là Lê Kính Tông bị giết. Lần này vua ở ngôi 24 năm (1619 – 1643). Sau đó, nhường ngôi cho con là Lê Duy Hựu để lên làm thượng hoàng 6 năm (1643 – 1649).
  • Lần thứ hai lên ngôi vào tháng 10 năm Kỉ Sửu (1649) sau khi con là vua Lê Chân Tông mất. Lần này ở ngôi 13 năm (1649 – 1662).

– Vua mất ngày 22 tháng 9 năm Nhâm Dần (1662), thọ 55 tuổi.

Trong thời gian ở ngôi, vua Lê Thần Tông đã đặt 6 niên hiệu sau đây:

Hai niên hiệu cho lần ở ngôi thứ nhất là:

  • Vĩnh Tộ: 1619 – 1629
  • Đức Long: 1629 – 1643

Bốn niên hiệu cho lần ở ngôi thứ hai là:

  • Khánh Đức: 1649 – 1653
  • Thịnh Đức: 1653 – 1658
  • Vĩnh Thọ: 1658 – 1662
  • Vạn Khánh: 1662 (vừa đặt thì mất).

Lê Kính Tông (1599 – 1619)

– Họ và tên: Lê Duy Tân.

– Vua là con thứ của Lê Thế Tông, thân mẫu là ai chưa rõ.

– Vua sinh năm Mậu Tí (1588), lên ngôi ngày 27 tháng 8 năm Kỉ Hợi (1599).

– Từ đầu thế kỳ XVII, sau khi đánh tan nhà Mạc, giành lại được kinh đô Đông Đô, quyền lực của Trịnh Tùng ngày càng lớn, triều đình chỉ phục vụ nhà Chúa. Trước tình hình đó, Vua cùng với Trịnh Xuân (con thứ của Trịnh Tùng) mưu giết Trịnh Tùng nhưng bị bại lộ, Trịnh Xuân bị bắt giam còn Vua bị bức thắt cổ chết.

– Vua ở ngôi 20 năm, bị giết ngày 12 tháng 5 năm Kỉ Mùi (1619), thọ 31 tuổi.

– Trong thời gian 20 năm ở ngôi, Lê Kính Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Thận Đức: 1600 – 1601
  • Hoằng Định: 1601 – 1619.

Lê Thế Tông (1573 – 1599)

– Họ và tên: Lê Duy Đàm.

– Vua là con thứ 5 của Lê Anh Tông. thân mẫu chưa rõ.

– Vua sinh tháng 11 năm Đinh Mão (1567), tại Thanh Hoá.

– Lên ngôi ngày 1 tháng 1 năm Quý Dậu (1573), khi mới sáu tuổi. Bấy giờ, Lê Anh Tông còn đang chạy loạn ở Nghệ An. Quyền hành tất cả nằm trong tay Tả tướng Trịnh Tùng.

– Tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592), trong trận chiến Nam – Bắc Triều, Trịnh Tùng bắt được Mạc Mậu Hợp, chiếm được kinh thành. Tháng 2 năm Quý Tị (1593), Trịnh Tùng đón Vua về kinh đô. Trịnh Tùng tự xưng là Đô Nguyên súy tổng quốc chính thượng phụ Bình An Vương, toàn quyền quyết định, Vua chỉ ngồi chắp tay làm vì.

– Vua ở ngôi 26 năm, mất ngày 24 tháng 8 năm Kỉ Hợi (1599) vì bệnh, thọ 32 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, vua Lê Thế Tông có đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Gia Thái: 1573 – 1577
  • Quang Hưng: 1578 – 1599.

Lê Anh Tông (1556 – 1573)

– Họ và tên: Lê Duy Bang (cháu 5 đời của Lê Trừ, anh Lê Lợi). Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chính biên, quyển 18, tờ 7) cho biết Lê Trừ là anh Lê Lợi. Lê Trừ sinh ra Lê Khang, Lê Khang sinh ra Lê Thọ, Lê Thọ sinh ra Lê Duy Thiệu, Lê Duy Thiệu sinh ra Lê Duy Quang, Lê Duy Quang sinh ra Lê Duy Bang.

– Thân mẫu của vua người Bố Vệ, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hoá, chưa rõ họ tên và tước hiệu.

– Vua sinh năm Nhâm Thìn (1532), lên ngôi năm Bính Thìn (1556). Mọi việc trong triều đều do Trinh Kiểm quyết định, Vua chỉ nghe theo. Tháng 2 năm 1570, Trịnh Kiểm mất. Anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng tranh giành binh quyền, vua đã trực tiếp điều hành triều chính và giải quyết mâu thuẫn này, sau Trịnh Cối đem gia đình ra hàng nhà Mạc. Vua phong Trịnh Tùng tước Trưởng Quận công nắm giữ binh quyền để đánh nhà Mạc.

– Vua ở ngôi 17 năm, bỏ Thanh Hoá chạy vào Nghệ An để tránh loạn năm 1572, bị giết ngày 22 tháng 1 năm Quý Dậu (1573), thọ 41 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Lê Anh Tông có đặt 3 niên hiệu sau đây:

  • Thiên Hựu: 1556 – 1557
  • Chính Trị: 1558 – 1571
  • Hồng Phúc: 1572 – 1573.

Lê Trung Tông (1548 – 1556)

– Họ và tên: Lê Huyên.

– Vua là con trưởng của Lê Trang Tông, thân mẫu là ai thì chưa rõ.

– Vua lên ngôi năm Mậu Thân (1548), ở ngôi 8 năm, mất ngày 24 tháng 1 năm Bính Thìn (1556), thọ 22 tuổi (?) Vua không có con nối dõi.

– Trong thời gian ở ngôi, Lê Trung Tông có đặt một niên hiệu là Thuận Bình (1548 – 1556).

Lê Trang Tông (1533 – 1548)

– Họ và tên: Lê Ninh, lại có tên khác là Lê Huyến.

– Vua là con của Lê Chiêu Tông, thân mẫu là Phạm Hoàng hậu, huý là Phạm Thị Ngọc Quỳnh, quê ở sách Cao Trí (nay thuộc Thanh Hoá).

– Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, Duy Ninh mới 11 tuổi, được Lê Quán cõng chạ sang Ai Lao, đổi tên là Huyến. Đến tháng Giêng năm Quý Tị (1533) được Chiêu Huấn Công Nguyễn Kim đón Duy Ninh về lập làm vua.

– Vua lên ngôi năm Quý Tị (1533) tại Thanh Hoá, là vị vua đầu tiên của Nam Triều trong cuộc hỗn chiến Nam – Bắc Triều (hay hỗn chiến Lê – Mạc). Vua tôn Nguyễn Kim là Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc Công, lấy Sầm Hà làm nơi hành tại, kết giao với vua Ai Lao là Xạ Đẩu để nhờ quân lương, mưu việc lấy lại nước.

– Tháng 12 năm 1540, Nguyễn Kim đưa quân từ Ai Lao về đánh Nghệ An, hào kiệt các nơi theo về nhà Lê Trung Hưng rất đông. Cuối năm 1543, nhà Lê chiếm được Tây Đô (Thanh Hóa), từ đó hình thành Nam – Bắc Triều. Hai nhà Lê – Mạc nội chiến tàn khốc kéo dài gần 50 năm (1543-1592). Năm 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng Dương Chấp Nhất hạ độc giết chết. Trịnh Kiểm là con rể Nguyễn Kim nắm giữ binh quyền, hình thành thời kỳ “Vua Lê – Chúa Trịnh” sau này.

– Vua ở ngôi 15 năm, mất ngày 29 tháng 1 năm Mậu Thân (1548) thọ 33 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, vua chỉ đặt một niên hiệu là Nguyên Hoà (1533 – 1548).

Lê Cung Hoàng (1522 – 1527)

– Họ và tên: Lê Xuân, lại có tên khác là Lê Khánh.

– Vua là con của Cẩm Giang Vương Sùng. cùng thân mẫu với Lê Chiêu Tông, em ruột của Lê Chiêu Tông, nên sử thường chép về vua trước khi lên ngôi là Hoàng đệ Xuân (em ruột của vua, tên là Xuân).

– Vua sinh ngày 26 tháng 7 năm Đinh Mão (1507), lên ngôi tháng 12 năm 1522 (khi Lê Chiêu Tông chạy vào Thanh Hoá).

– Vua ở ngôi 5 năm. Năm 1524, Mạc Đăng Dung tự mình thăng tước Bình Chương quân quốc trọng sự Thái phó Nhân Quốc Công. Tháng 10 năm 1525, Đăng Dung tự phong làm Đô tướng dẫn tất cả thủy, lục quân vào đánh Thanh Hóa, bắt được Chiêu Tông đem về giam cầm đến tháng 12 năm 1526 thì giết chết. Đăng Dung rút quân về đóng tại Cổ Trai, nhưng vẫn chế ngự triều đình. Tháng 4 năm 1527, Cung Hoàng sai Trung sứ Đỗ Hiếu Đễ đến làng Cổ Trai tấn phong Đăng Dung làm An Hưng Vương.

– Ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi, sau đó vài tháng thì bị giết, thọ 20 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Lê Cung Hoàng chỉ đặt một niên hiệu là Thống Nguyên (1522 – 1527).

Lê Chiêu Tông (1516 – 1522)

– Họ và tên: Lê Y, lại còn có tên khác là Lê Huệ.

– Vua là cháu bốn đời của Lê Thánh Tông, con của Cẩm Giang Vương Sùng, cháu đích tôn của Kiến Vương Tân. Thân mẫu của vua huý là Trịnh Thị Loan, người xã Phi Bạo, huyện Thanh Chương, Nghệ An, sau được tôn phong là Trịnh Thái hậu.

– Vua sinh ngày 4 tháng 10 năm Bính Dần (1506). Sau khi giết Tương Dực, Trinh Duy Sản và Lê Nghĩa Chiêu đón Lê Ý (khi ấy 11 tuổi) về tôn làm vua. Vua ở ngôi 6 năm (1516 – I522).

– Dưới triều Chiêu Tông, Mạc Đăng Dung khôn khéo thâu tóm quyền hành, Mặc Đăng Doanh là con của Đăng Dung giữ chức Dục Mỹ Hầu trông coi điện Kim Quang, ngày càng có mưu đồ thoán đạt. Trước tình hình đó , Chiêu Tông mưu ngầm với Trịnh Tuy tìm cách triệt hạ thế lực họ Mạc. Mưu bị lộ, Vua phải bỏ kinh đô chạy vào Thanh Hoá ngày 18 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1522). Vua bị giáng xuống làm Đà Dương Vương và bị giết vào ngày 18 tháng 12 năm Canh Dần (1530), thọ 24 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Lê Chiêu Tông có đặt một niên hiệu là Quang Thiệu (1516 – 1522).

Lê Tương Dực (1510-1516)

– Họ và tên: Lê Oanh (cũng đọc là Lê Oánh), lại có tên khác là Lê Trừ.

– Vua là con của Kiến Vương Tân (Kiến Vương Tân là con thứ năm của Lê Thánh Tông, em của vua Lê Hiến Tông, chú của Lê Túc Tông và Lê Uy Mục). Thân mẫu là Từ Huy Hoàng thái hậu, huý là Trịnh Thị Tuyên, người xã Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tinh Thanh Hoá, con gái của quan Tả tôn chính Trịnh Trọng Phong.

– Vua sinh ngày 25 tháng 6 năm Quý Sửu (1493), thời Lê Hiến Tông, được phong là Giản Tu Công, khi Lê Uy Mục lên ngôi, vì kinh thành có biến nên chạy vào Thanh Hoá.

– Tháng 10 năm Kỉ Tị (1509), được quần thần tôn lên ngôi để lo việc lật đổ Lê Uy Mục. Tháng 12 năm đó (1509), giết Lê Uy Mục mà lên ngôi.

– Vua ở ngôi hơn 6 năm, bị giết vào ngày 7 tháng 4 năm Bính Tí (1516), thọ 23 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi vua có đặt một niên hiệu là Hồng Thuận (1509 – 1516).

Lê Uy Mục (1505 – 1509)

– Họ và tên: Lê Tuấn, lại có tên khác là Lê Huyên.

– Vua sinh ngày 5 tháng 5 năm Mậu Thân (1488).

– Vua là con thứ hai của Lê Hiến Tông, thân mẫu là Chiêu Nhân Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị (huý là Nguyễn Thị Cận, quê quán xã Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, nay thuộc Bắc Ninh).

– Vua lên ngôi tháng 12 năm Giáp Tí (1504), ở ngôi 5 năm, bị giết mà mất vào ngày 1 tháng 12 năm Kỉ Tị (1509) thọ 21 tuổi.

– Trong thời gian 5 năm ở ngôi, Lê Uy Mục có đặt một niên hiệu là Đoan Khánh (1505 – 1509).

Lê Túc Tông (1504)

– Họ và tên: Lê Thuần.

– Vua là con thứ ba (trong số 6 người con trai) của Lê Hiến Tông. Thân mẫu là Trang Thuận Minh Ý Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị (huý là Nguyễn Thị Hoàn), quán xã Bình Lăng, huyện Thiên Thi, nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

– Vua sinh ngày 3 tháng 8 năm Mậu Thân (1488), được lập làm Thái tử tháng 12 năm Kỉ Mùi (1499), lên nối ngôi từ tháng 6 năm Giáp Tí (1504), ở ngôi được 6 tháng thì mất vào tháng 12 năm Giáp Tí (1504), thọ 16 tuổi. Vua ham học hỏi, thân người hiền, vui điều thiện, là một vị vua giỏi giữ nghiệp thái bình.

– Trong 6 tháng ở ngôi, vua có đặt một niên hiệu là Thái Trịnh (1504).

Lê Hiến Tông (1497 – 1504)

– Họ và tên: Lê Tranh, lại có tên khác là Lê Huy.

– Vua là con trưởng của Lê Thánh Tông, thân mẫu là Trường Lạc Thánh Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị (huý là Nguyễn Thị Hằng, người ở Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Tống Sơn, Thanh Hoá) là con gái của Trịnh Quốc Công Nguyễn Đức Trung.

– Vua sinh ngày 10 tháng 8 năm Tân Tỵ (1461), được lập làm thái tử tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1462), lên nối ngôi tháng 2 năm Đinh Tị (1497). Vua là một người thông minh hòa hậu, thường khi bãi triều rồi, vua ra ngồi nói chuyện với các quan với lời lẽ ôn hòa, sắc mặt vui tươi. Cách cai trị nhàn hạ, ung dung mà thiên hạ răm ráp nghe theo.

– Vua ở ngôi hơn 7 năm, mất ngày 24 tháng 5 năm Giáp Tí (1504) thọ 43 tuổi.

– Trong thời gian hơn 7 năm ở ngôi, Lê Hiến Tông chỉ đặt một niên hiệu là Cảnh Thống (1498 – 1504).

Lê Thánh Tông (1460 – 1497)

– Họ và tên: Lê Tư Thành, con thứ tư của Lê Thái Tông, thân mẫu là Quang Thục Thái hậu Ngô Thị (huý là Ngô Thị Ngọc Dao, con gái Thái bảo Ngô Từ).

– Vua sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) tại chùa Huy Văn (ngõ Văn Chương, Hàng Bột, Hà Nội). Sống giữa chốn dân gian từ nhỏ, đến năm 4 tuổi, Thái hậu Tuyên Từ buông rèm nhiếp chính mới cho đón Tư Thành về, phong làm Bình Nguyên Vương, hàng ngày cùng Nhân Tông và các hoàng thân khác học tập tại tòa Kính Diên. Tư Thành chăm chỉ học tập, thông tuệ hơn người nên rất được Nhân Tông yêu quý.

– Ngày 8 tháng 6 năm Canh Thìn (1460), nghĩa là hai ngày sau khi Lê Nghi Dân bị giết, Lê Tư Thành được triều thần tôn lên ngôi. Thánh Tông chăm lo việc nước, mở mang bờ cõi, kén chọn hiền tài ra giúp nước, coi trọng việc bảo vệ biên giới quốc gia.

– Vua ở ngôi 37 năm, mất ngày 30 tháng giêng năm Đinh Tị (1497), thọ 55 tuổi, táng ở Chiêu Lăng.

Trong thời gian 37 năm ở ngôi, Lê Thánh Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Quang Thuận: 1460 – 1469
  • Hồng Đức: 1470 – 1497.

Lê Nghi Dân (1459 – 1460)

– Lê Nghi Dân là con trưởng của Lê Thái Tông, thân mẫu là bà Dương Thị Bí.

– Sinh vào tháng 6 năm Kỉ Mùi (1439). Ngày 21 tháng 3 năm Canh Thân (1440) được lập thái tử, nhưng đến tháng 1 năm Tân Dậu (1441) thì bị giáng truất, cho làm Lạng Sơn Vương.

– Nguyên trước kia Dương Thị Bí là mẹ của Lê Nghi Dân phạm tội với Lê Thái Tông nên Nghi Dân không được lập làm Thái tử, mới ngầm chứa mưu gian nhòm ngó ngôi báu, cùng bọ đồng đảng là Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng cầm đầu bọn vô lại, đêm ngày 3 tháng 10 năm Kỷ Mão (1459) thì lén vào cung cấm giết chết Nahan Tông và Tuyên Từ Hoàng Thái hậu.

– Ngày 6 tháng 6 năm Canh Thìn (1460) thì bị triều thần giết, thọ 21 tuổi.

– Trong thời gian 8 tháng ở ngôi, Lê Nghi Dân có đặt một niên hiệu là Thiên Hưng.

Lê Nhân Tông (1442 – 1459)

– Họ và tên: Lê Bang Cơ.

– Vua là con thứ ba của Lê Thái Tông, thân mẫu là Tuyên Từ Hoàng Thái hậu (huý là Nguyễn Thị Anh, người Bố Vệ, Đông Sơn, Thanh Hoá).

– Vua sinh ngày 9 tháng 6 năm Tân Dậu (1441), được lập làm Thái tử ngày 16 tháng 11 năm 1441.

– Ngày 12 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442), được lên nối ngôi lúc mới hai tuổi, Thái hậu Tuyên Từ phải buông rèm nhiếp chính. Tháng 11 năm Quý Dậu (1453) vua đã 12 tuổi, Thái hậu trả quyền chính cho Vua. Vua đại xá thiên hạ, người đời bấy giờ ca ngợi tài năng và đức độ của Vua. Vua ở ngôi gần 17 năm, mất ngày 3 tháng 10 năm Kỉ Mão (1459) vì bị anh là Lê Nghi Dân giết, thọ 18 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Lê Nhân Tông đã đặt hai niên hiệu là:

  • Thái Hoà: 1443 – 1453
  • Diên Ninh: 1454 – 1459.

Lê Thái Tông (1433 – 1442)

– Họ và tên: Lê Nguyên Long.

– Vua là con thứ của Lê Thái Tổ, thân mẫu là Phạm Hoàng hậu (huý là Phạm Ngọc Trần).

– Vua sinh ngày 21 tháng 11 năm Quý Mão (1423) tại Thanh Hoá.

– Được lập làm thái tử ngày 6 tháng 1 năm Kỉ Dậu (1429) và được lên nối ngôi ngày 8 tháng 9 năm Quý Sửu (1433). Vua ở ngôi 9 năm, mất ngày 4 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442), thọ 20 tuổi. Vua có bốn người con trai do bốn người vợ sinh ra là: Chiêu nghi Dương Thị Bí sinh Nghi Dân, Thần phi Nguyễn Thị Anh sinh Hoàng tử Bang Cơ, Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao sinh Hoàng tử Tư Thành và một người vợ khác sinh Cung Vương Khắc Xương.

– Trong thời gian ở ngôi, Lê Thái Tông đã đặt hai niên hiệu. Đó là:

  • Thiệu Bình: 1434 – 1439
  • Đại Bảo: 1440 – 1442.

Lê Thái Tổ (1428-1433)

– Họ và tên: Lê Lợi.

– Thân sinh của vua là Lê Khoáng, nguyên là trại chủ Lam Sơn (Thanh Hoá), sau được tôn phong là Tuyên Tổ Phúc Hoàng Đế. Thân mẫu là Trịnh Thị Ngọc Thương, sau được tôn phong là Trịnh Từ Ỷ Văn hoàng thái hậu.

– Vua sinh ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385) tại Chủ Sơn, Lôi Dương (nay thuộc tỉnh Thanh Hoá). Ngay từ khi còn trẻ, Lê Lợi đã tỏ ra là người thông minh, dũng lược đức độ hơn người, dáng người hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai phải có nốt ruồi đỏ lớn, tiếng nói như chuông. Lớn lên, ông làm chức Phụ đạo ở Khả Lam, ông chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp, nghiền ngẫm thao lược, tìm mời những bậc hiền sĩ, chiêu tập dân lưu tán, hăng hái dấy nghĩa binh, mong trừ loạn lớn.

– Ngày mồng 2 Tết năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược. Lúc ấy, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương.  Sau hơn mười năm nằm gai nếm mật, chiến đấu ngoan cường, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng và lãnh đạo đã giành toàn thắng. Sau Hội thề Đông Quan, ngày 29 tháng 12 năm 1427, bại binh củ giặc bắt đầu được phép rút quân về nước an toàn, đến ngày 03 tháng 01 năm 1428, bóng dáng quân Minh cuối cùng đã được quét sạch khỏi toàn bờ cõi.

– Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi hoàng đế tại kinh thành Thăng Long, xưng là “Thuận Thiên thừa vận, Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương”, ban bố “Bình Ngô Đại cáo” – Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của nước ta.

– Vua ở ngôi gần 6 năm, mất ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), táng tại Vĩnh Lăng (Lam Sơn, Thanh Hóa), thọ 48 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Lê Lợi chỉ đặt một niên hiệu là Thuận Thiên (1428 – 1433).

Trùng Quang Đế (1409 – 1413)

– Họ và tên: Trần Quý Khoáng (cũng viết là Trần Quý Khoách).

– Vua là con thứ của Mẫn Vương Trần Ngạc, cháu gọi Trần Nghệ Tông là ông nội, gọi Giản Định Đế là chú ruột, chưa rõ vua sinh năm nào.

– Đặng Dung là con Quốc công Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Dị là con Tham mưu quân sự Nguyễn Cảnh Chân, căm giận vì cha bị giết oan nên đem quân Thuận Hóa về Thanh Hóa đón Trần Qus Khoáng đến Nghệ An để lên làm vua.

– Vua lên ngôi ngày 17 tháng 3 năm Kỉ Sửu (1409) tại Chi La (nay là Hà Tĩnh).

– Vua bị quân Minh bắt vào tháng 11 Quý Tị (1413) và giải về Trung Quốc. Tháng 4 năm Canh Ngọ (1414), trên đường bị giải về Trung Quốc, vua nhảy xuống nước tự vẫn.

– Trong thời gian gần 5 năm ở ngôi. vua đặt một niên hiệu là Trùng Quang.

Giản Định Đế (1407 – 1409)

– Họ và tên: Trần Ngỗi (cũng có sách viết là Trần Quỹ).

– Vua là con thứ của Trần Nghệ Tông, chưa rõ thân mẫu là ai và cũng chưa rõ vua sinh vào năm nào.

– Đầu năm 1407, khi quân Minh xâm lược nước ta, vua chạy vào phủ Trường Yên (nay thuộc Ninh Bình).

– Tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), vua lên ngôi tại Mô Độ, phủ Trường Yên, nay là Yên Mô, Ninh Bình. Vì trước đó vua có hiệu là Giản Định, nên khi lên ngôi, xưng là Giản Định Đế.

– Tháng 12 năm Mậu Tí (1408), do mâu thuẫn nội bộ, vua chạy về thành Ngự Thiên (nay thuộc Hưng Hà, Thái Bình), nhưng vẫn dốc chí đánh giặc.

– Ngày 17 tháng 3 năm Kỉ Sửu (1409), vua bị tướng của Trần Quý Khoáng là Nguyễn Suý bắt được, dẫn về Nghệ An với nghĩa quân Trần Quý Khoáng.

– Ngày 7 tháng 4 năm ấy, được tôn là Thượng hoàng (lúc này Trần Quý Khoáng xưng là Trùng Quang Đế).

– Tháng 7 năm Kỉ Sửu, bị quân Minh bắt và bị hại.

– Trong gần hai năm ở ngôi, Giản Định Đế đặt niên hiệu là Hưng Khánh.

Hồ Hán Thương (1400-1407)

– Con thứ của Hồ Quý Ly, em của Hồ Nguyên Trừng, sinh năm nào không rõ.

– Năm 1399: xưng là Nhiếp thái phó.

– Tháng 1 năm Canh Thìn (1400) được lập làm thái tử (dẫu lúc này vua Trần Thiếu Đế vẫn đang ở ngôi và họ Hồ chỉ là ngoại thích).

– Tháng 12 năm 1400, được cha là Hồ Quý Ly nhường ngôi. Hồ Hán Thương làm vua hơn 6 năm (12-1400 đến 6-1407).

– Tháng 6 năm 1407, bị thua trận, rồi bị quân Minh bắt giải về Trung Quốc cùng với cha, anh và nhiều triều thần khác, sau không rõ mất năm nào.

– Trong thời gian ở ngôi, Hồ Hán Thương đã đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Thiệu Thành: 1401 – 1402
  • Khai Đại: 1403 – 1407.

Hồ Quý Ly (1400)

Tên tự: Lý Nguyên. Tiên tổ của Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật, vốn gốc thuộc Việt ở Chiết Giang (Trung Quốc) di cư đến nước ta trong khoảng thời Hậu Hán (Ngũ đại thập quốc 907 – 960). Hồ Hưng Dật định cư tại thôn Bào Đột, phủ Diễn Châu (nay là Nghệ An) và từ đó về sau, con cháu của ông đời đời làm trại chủ của đất này. Đến triều Lý trong họ có người lấy công chúa Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoan. Đến đời thứ 12, một người của họ Hồ là Hồ Liêm đã bỏ Diễn Châu di cư ra đất Đại Lại (Thanh Hoá). Hồ Liêm làm con nuôi của quan Tuyên uý là Lê Huấn, nên đổi gọi là họ Lê. Sử cũ có lúc chép Hồ Quý Ly là Lê Quý Ly cũng bởi sự kiện này. Hồ Quý Ly là cháu bốn đời của Hồ Liêm. Hồ Quý Ly kết hôn cùng công chúa Huy Ninh, con gái Vua Trần Minh Tông.

Thuở nhỏ, Hồ Quý Ly theo học võ với một võ sư người họ Nguyễn, hiệu là Sư Tề. Sư Tề có người con trai là Nguyễn Đa Phương cũng rất giỏi võ nghệ. Hồ Quý Ly kết nghĩa anh em với Nguyễn Đa Phương.

Đường danh vọng của Hồ Quy Ly được khởi đầu từ đời Trần Nghệ Tông (1370 – 1372), với chức vụ đầu tiên rất khiêm nhượng là Chi hậu tứ cục chánh chưởng. Từ đây, Hồ Quý Ly liên tục được thăng quan tiến chức. Những nấc thang quan trọng nhất trên con đường thăng tiến của Hồ Quý Ly như sau:

– Năm 1371: được vua Trần Nghệ Tông phong tước Trung Tuyên Quốc Thượng Hầu, chức Khu mật viện đại sứ.

– Năm 1375: được thượng hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Duệ Tông thăng chức Tham mưu quân sự.

– Năm 1379: được thượng hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Phế Đế thăng chức Tiểu tư không, kiêm Khu mật viện đại sứ.

– Năm 1380: được thượng hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Phế Đế thăng chức Nguyên nhung, quản việc Hải tây đô thống chế.

– Năm 1387: được thượng hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Phế Đế thăng chức Đồng bình chương sự (thành viên cơ quan tối cao của nhà nước).

– Năm 1395: được vua Trần Thuận Tông thăng tước Tuyên Trung Vệ Quốc Đại Vương.

– Năm 1397: ép vua Trần Thuận Tông phải dời đô từ Thăng Long vào Đại Lại (Thanh Hoá).

– Năm 1398: ép vua Trần Thuận Tông phải nhường ngôi cho thái tử Trần An (lúc này mới 2 tuổi). Trần An lên ngôi, đó là vua Trần Thiếu Đế (1398 – 1400).

– Năm 1399: giết vua Trần Thuận Tông, sau lại giết thêm một lúc 370 người mà Hồ Quý Ly cho là thuộc phe đối nghịch với mình, rồi tự xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng.

– Năm 1400: Cướp ngôi của nhà Trần, tự lập làm vua, đổi tên nước là Đại Ngu, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên.

– Tháng 12 năm 1400: Nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, để làm thượng hoàng.

– Giữa năm 1407, khi cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược bị thất bại, Hồ Quý Ly bị bắt về Trung Quốc, rồi bị giết, thọ 70 tuổi (1337-1407).

Trần Thiếu Đế (1398 – 1400)

– Họ và tên: Trần An.

– Vua là con trưởng của Trần Thuận Tông, thân mẫu là Khâm Thánh Hoàng Thái hậu Hồ Thị (con gái Hồ Quý Ly)

– Vua sinh năm Bính Tí (1396), lên ngôi ngày 15 tháng 3 năm Mậu Dần (1398), ở ngôi 2 năm (1398 – 1400).

– Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1400), bị Hồ Quý Ly cướp ngôi rồi bị giáng làm Bảo Ninh Đại Vương. Vua vốn là cháu ngoại của Hồ Quý Ly nên không bị giết, nhưng sau không rõ mất vào lúc nào.

– Trong thời gian ở ngôi, vua có niên hiệu là Kiến Tân (từ 1398 đến 1400).

Trần Thuận Tông (1388 – 1398)

– Họ và tên: Trần Ngung.

– Vua là con út của Trần Nghệ Tông, thân mẫu là Lê thái hậu (không rõ tên và hiệu).

– Vua sinh năm Mậu Ngọ (1378), lên ngôi năm Mậu Thìn (1388), ở ngôi 10 năm (13881398), đi tu theo đạo Phật một năm (1398-1399).

– Năm Kỷ Tị (1389), Chế Bồng Nga lại đem quân đánh Đại Việt, Hồ Quý Ly đưa quân cự chiến nhưng thua trận phải rút chạy, Thượng hoàng sai đô tương là Trần Khát Chân đem quân đi chặn đánh giặc. Tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), Chế Bồng Nga đi thị sát trận địa của Trần Khát Chân ở Hải Triều (Hưng Nhân, Thái Bình và Tiên Lữ, Hưng Yên) nhân có tên tiểu thần của Chế Bồng Nga là Ba Lậu Kê bị Chế Bồng Nga trách phạt, chạy sang hàng quân ta cho Trần Khát Chân biết dấu hiệu đặc biệt của thuyền chở Chế Bồng Nga, Trần Khát Chân khéo dụ địach sa vào trận mai phục rồi ra lệnh cho các hỏa sáng nhất tề nhả đạn, bắn trúng thuyền Chế Bồng Nga, xuyên suốt ván thuyền, Chế Bồng Nga trúng đạn chết tại trận. Trần Khát Chân chém đầu Chế Bồng Nga đem về dâng Vua và Thượng hoàng Nghệ Tông. Tướng Chiêm Thành là La Ngai đem quân về nước chiếm ngôi vua. Hai con của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan và Chế Sơn Nộ sợ bị giết, đã sang hàng Đại Việt và được Vua trọng dụng.

– Ngày 15 tháng 2 năm Giáp Tuất (1394), Thượng hoàng Nghệ Tông hoăng thệ, Hồ Quý Ly lên làm Phụ chính Thái sư, thâu tóm toàn bộ quyền bính để dễ bề cướp ngôi Vua. Hồ Quý Ly dời đô vào Thanh Hóa, xây Tây Đô (ở Động An Tôn, Vĩnh Lộc).

– Tháng 4 năm Kỉ Mão (1399), vua bị Hồ Quý Ly sai người bức tử, thọ 21 tuổi (Hồ Quý Ly cung chinh là nhạc phụ của vua).

– Trong thời gian ở ngôi, Trần Thuận Tông chỉ đặt một niên hiệu duy nhất là Quang Thái (1388 – 1398).

Trần Phế Đế (1377 – 1388)

– Họ và tên: Trần Hiện.

– Vua là con trưởng của Trần Duệ Tông, thân mẫu là Gia Từ Hoàng Thái hậu Lê Thị.

– Vua sinh ngày 6 tháng 3 năm Tân Sửu (1361). Lên ngôi ngày 13 tháng 5 năm Đinh Tị (1377), ở ngôi 11 năm (1377 – 1388).

– Ngày 6 tháng 12 năm Mậu Thìn (1388), Thượng hoàng Trần Nghệ Tông giáng Phế Đế xuống làm Linh Đức Đại vương, sau đó bức tử, thọ 27 tuổi.

– Trong thời gian 11 năm ở ngôi, Trần Phế Đế chỉ đặt một niên hiệu là Xương Phù (1377 – 1388).

Trần Duệ Tông (1372 – 1377)

– Họ và tên: Trần Kính.

– Vua là con thứ 11 của Trần Minh Tông (em của vua Trần Nghệ Tông), thân mẫu là Đôn Từ Hoàng Thái phi (chị ruột của Minh Từ Hoàng Thái phi).

– Vua sinh ngày 2 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337), được lập làm thái tử tháng 4 năm Tân Hợi (1371) và được truyền ngôi ngày 9 tháng 11 năm Nhâm Tí (1372).

– Năm Bính Thìn (1376), vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem sang cống 10 mâm vàng, quan trấn thủ Hóa Châu là Đỗ Tử Bình ỉm đi, cướp làm của riêng rồi dâng sớ tâu rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn, vô lễ, xin vua cử binh sang đánh. Tháng 12 năm 1376, nghe lời tấu man của Đỗ Tử Bình, Duệ Tông thân chinh đem 12 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Tháng Giêng năm 1377 đại quân tiến đến cử Thị Nại (Quy Nhơn), Chế Bông Nga dựng trại bên ngoài thành Đồ Bàn (Bình Định) rồi cho Mục Bà Na đến trá hàng, nói là Chế Bồng Nga đã bỏ thành chạy trống, ngày 24 tháng Giêng, vua thúc quân tiến vào thành, đại tướng Đỗ Lễ can mãi vua không nghe cứ tiến quân đến chân thành thì quân Chiêm Thành đổ ra đánh, quân ta thua to, vua chết trong đám loạn quân.

– Vua ở ngôi 5 năm (1372 – 1377), mất ngày 24 tháng 1 năm Đinh Tị (1377), thọ 40 tuổi.

– Trong thời gian 5 năm ở ngôi, vua Trần Duệ Tông chỉ đặt một niên hiệu duy nhất, đó là Long Khánh (1372 – 1377).

Trần Nghệ Tông (1370 – 1372)

– Họ và tên: Trần Phủ.

– Vua là con thứ ba của Trần Minh Tông, thân mẫu là Minh Từ Hoàng Thái phi Lê Thị (em ruột của Đôn Từ Hoàng Thái phi).

– Vua sinh ngày tháng 12 năm Tân Dậu (1321).

– Lên ngôi ngày 15 tháng 11 năm Canh Tuất (1370), sau khi đã lật đổ Dương Nhật Lễ (Dương Nhật Lễ cũng đồng thời là con rể của Trần Nghệ Tông).

– Vua dẹp yên được nạn bên trong, khôi phục được cơ đồ nhà Trần song cung kính kiệm ước thì có thừa mà cương  nghị, quyết đoán lại không đủ. Bên ngoài, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem quân vượt biển vào cửa Đại An tiến đánh Thăng Long, quân ta không thể chống chọi. Vua phải bỏ kinh thành chayj sang Đình Bảng lánh nạn. Quân Chiêm vào thành đốt sạch cung đình, bắt bớ dân lành rồi rút quân về.

– Vua ở ngôi hai năm (1370 – 1372), nhường ngôi để làm Thượng hoàng 22 năm (1372 – 1394).

– Mất ngày 15 tháng 12 năm Giáp Tuất (1394), thọ 74 tuổi.

– Trong thời gian 2 năm ở ngôi, Trần Nghệ Tông chỉ đặt một niên hiệu. đó là Thiệu Khánh (1370 – 1372).

Dương Nhật Lễ (1369 – 1370)

– Dương Nhật Lễ vốn là con của người kép hát tên là Dương Khương. Vợ Dương Khương đang có thai với Dương Khương thì bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc Vương Dục (là con thứ của thượng hoàng Trần Minh Tông). Khi Dương Nhật Lễ sinh ra, Cung Túc Vương Dục nhận Iàm con, nhưng không được bao lâu thì Cung Túc Vương Dục mất.

– Bấy giờ, thượng hoàng Trần Minh Tông cũng đã mất, vua Trần Dụ Tông thì không còn, cho nên quyền bính nằm hết trong tay Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Thái hậu.

– Ngày 15 tháng 6 năm Kỉ Dậu (1369), Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Thái hậu đưa Dương Nhật Lễ lên ngôi. Nhân cơ hội lớn này, Dương Nhật Lễ bức hại Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Thái hậu cùng nhiều quý tộc họ Trần, như Cung Định Vương, Cung Tĩnh Vương hoảng sợ bỏ trốn lên Đà Giang, cốt để giành ngôi báu cho họ Dương.

– Ngày 21 tháng 11 năm Canh Tuất (1370), Dương Nhật Lễ bị Cung Tĩnh Vương Trần Phủ cùng triều thần giết chết. Không rõ năm ấy Dương Nhật Lễ bao nhiêu tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi, Dương Nhật Lễ có đặt một niêu hiệu, đó là Đại Định (1369 – 1370).

Trần Dụ Tông (1341 – 1369)

– Họ và tên: Trần Hạo.

– Vua là con thứ 10 của Trần Minh Tông (em của vua Trần Hiến Tông), thân mẫu là Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Thái hậu.

– Vua sinh ngày 19 tháng 10 năm Bính Tí (1336).

– Ngày 21 tháng 8 năm Tân Tị (1341), vua được thượng hoàng Trần Minh Tông đưa lên ngôi. Vua rất thông tuệ, học vấn cao minh, chăm lo việc võ, sửa sang việc văn nên đời Thiệu Phong chính sự tốt đẹp. Từ khi Thượng hoàng Minh Tông cùng các trung thần mất, bọn gian thần kéo bè đảng, Dụ Tông sinh ra rượu chè, chơi bời, khiến cho triều chính đổ nát, nhân dân cực khổ trăm bề.

– Vua ở ngôi 28 năm (1341 – 1369), chưa làm thượng hoàng thì đã mất vào ngày 25 tháng 5 năm Kỉ Dậu (1369), thọ 33 tuổi.

– Trong thời gian 28 năm ở ngôi. vua Trần Dụ Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Thiệu Phong: 1341 – 1357
  • Đại Trị: 1358 – 1369.

Trần Hiến Tông (1329 – 1341)

– Họ và tên: Trần Vượng.

– Vua là con thứ của Trần Minh Tông, thân mẫu là Minh Từ Hoàng Thái phi Lê Thị.

– Vua sinh ngày 17 tháng 5 năm Kỉ Mùi (1319) tại kinh thành Thăng Long.

– Được lập làm thái tử ngày 7 tháng 2 năm Kỉ Tị (1329).

– Được truyền ngôi ngày 15 tháng 2 năm Kỉ Tị (1329), ở ngôi 12 năm (1329-1341).

– Vua mất ngày 11 tháng 6 năm Tân Tị (1341), thọ 22 tuổi.

– Trần Hiến Tông là vị vua đầu tiên của triều Trần chưa kịp nhường ngôi cho con để lên làm thượng hoàng thì mất.

– Trong thời gian 12 năm ở ngôi, Trần Hiến Tông chỉ đặt một niên hiệu, đó là Khai Hựu (1329 – 1341).

Bắt đầu Blog tại WordPress.com.

Lên ↑

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu