Trần Minh Tông (1314 – 1329)

– Họ và tên: Trần Mạnh.

– Vua là con thứ tư của Trần Anh Tông, thân mẫu là Chiêu Hiến hoàng thái hậu Trần Thị (con gái của Bảo Nghĩa Đại Vương Trần Bình Trọng).

– Vua sinh năm Canh Ti (1300), được lập làm thái tử năm Ất Tị (1305).

– Được truyền ngôi ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314), ở ngôi 15 năm (1314-1329).

– Trần Minh Tông có lòng nhân hậu, biết tôn trọng nhân tài nên có nhiều hiền thần dưới trướng như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hài nhưng lại tin bọn nịnh thần giết oan chú ruột cũng là cha vợ là Huệ Võ Vương Quốc Chẩn.

– Vua nhường ngôi cho Thái tử Vượng để làm thượng hoàng 28 năm (1329-1357), mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (1357), thọ 58 tuổi, thụy hiệu Chương Nghiêu Văn Triết Hoàng đế.

– Trong 15 năm ở ngôi, Trần Minh Tông đã đặt hai niên hiệu, đó là:

  • Đại Khánh: 1314-1323
  • Khai Thái: 1324-1329

Trần Minh Tông (1314 – 1329)

– Họ và tên: Trần Mạnh.

– Vua là con thứ tư của Trần Anh Tông, thân mẫu là Chiêu Hiến hoàng thái hậu Trần Thị (con gái của Bảo Nghĩa Đại Vương Trần Bình Trọng).

– Vua sinh năm Canh Ti (1300), được lập làm thái tử năm Ất Tị (1305).

– Được truyền ngôi ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314), ở ngôi 15 năm (1314-1329).

– Trần Minh Tông có lòng nhân hậu, biết tôn trọng nhân tài nên có nhiều hiền thần dưới trướng như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hài nhưng lại tin bọn nịnh thần giết oan chú ruột cũng là cha vợ là Huệ Võ Vương Quốc Chẩn.

– Vua nhường ngôi cho Thái tử Vượng để làm thượng hoàng 28 năm (1329-1357), mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (1357), thọ 58 tuổi.

– Trong 15 năm ở ngôi, Trần Minh Tông đã đặt hai niên hiệu, đó là:

  • Đại Khánh: 1314-1323
  • Khai Thái: 1324-1329

Trần Nhân Tông (1278 – 1293)

– Họ và tên: Trần Khâm.

– Vua là con trưởng của Trần Thánh Tông, thân mẫu là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu.

– Vua sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258) tại kinh thành Thăng Long.

– Được lập làm thái tử tháng 12 năm Giáp Tuất (1274).

– Được truyền ngôi ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278), ở ngôi 15 năm (1278 – 1293), nhường ngôi để làm thượng hoàng 6 năm (1293 – 1299).

– Năm 1299, Trần Nhân Tông xuất gia tu hành Phật giáo và là người sáng lập ra phái Thiền Tông Trúc Lâm Yên Tử ở nước ta.

– Vua mất ngày 3 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), thọ 50 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi 15 năm, Trần Nhân Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Thiệu Bảo: 1279 – 1285
  • Trùng Hưng: 1285 – 1293.

Trần Anh Tông (1293 – 1314)

– Họ và tên: Trần Thuyên.

– Vua là con trưởng của Trần Nhân Tông, thân mẫu là Khâm Từ Bảo Thánh hoàng thái hậu, có hai em là Võ Quốc Vương Quốc Chẩn và công chúa Huyền Trân.

– Vua sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tí (1276), tại kinh thành Thăng Long.

– Được phong làm thái tử tháng 2 năm Nhâm Thìn (1292).

– Được truyền ngôi tháng 3 năm Quý Tị (1293), ở ngôi 21 năm, (1293 – 1314).

– Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Vua Chiêm dâng hai châu Ô và châu Lý làm lễ vật dẫn cưới. Tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), Trần Anh Tông đổi hai châu đó thành châu Thuận, châu Hóa và sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến kinh lý và đặt quan cai trị hai châu đó.

– Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314) vua nhường ngôi cho Thái tử Mạnh để làm thượng hoàng 6 năm (1314 – 1320).

– Mất ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân (1320), thọ 44 tuổi.

– Trong thời gian ở ngôi 21 năm vua Trần Anh Tông chỉ đặt một niên hiệu duy nhất, đó là Hưng Long (1293 – 1314).

Trần Thánh Tông (1258 – 1278)

– Họ và tên: Trần Hoảng.

– Vua là con thứ hai của Trần Thái Tông, thân mẫu là Hiến Từ Thuận Thiên Hoàng Thái hậu Lý thị. Thực ra, vua là con trưởng. Trước, Thuận Thiên thái hậu từng lấy Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông) và đã có thai với Trần Liễu được 3 tháng. Người con đầu của Thuận Thiên thái hậu, danh là của Trần Thái Tông mà thực là của Trần Liễu. Bởi danh này mà Trần Hoảng bị coi là con thứ chứ không phải con trưởng của vua Trần Thái Tông.

– Vua sinh ngày 25 tháng 9 năm Canh Tí (1240) tại kinh thành Thăng Long. Ngay sau khi sinh đã được lập làm thái tử.

– Vua được Trần Thái Tông truyền ngôi ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258), ở ngôi 20 năm (1258 – 1278). Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278), vua nhường ngôi cho con là thái tử Khâm để lên làm Thái thượng hoàng 12 năm.

– Thánh Tông là một vị vua nhân từ độ lượng, hết lòng chăm lo việc nước. Đối nội, nhà vua khuyến khích khai khẩn đất hoang, mở mang điền trang, thái ấp bằng cách chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc giúp họ an cư lạc nghiệp. Nhà vua khuyến khích việc học hành bằng cách mở các khoa thi cử để lựa chọn người tài mà trọng dụng. Đối ngoại, vua thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo nhưng rất kiên quyết, nhằm bảo vệ danh dự và nền độc lập của Tổ quốc.

– Vua mất ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290), thọ 51 tuổi. Vua có ba người con là Thiên Thụy công chúa, Thái tử Trần Khâm và Tá Thiên Vương Đức Việp.

– Trong thời gian ở ngôi 20 năm. vua Trần Thánh Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Thiệu Long: 1258 – 1272
  • Bảo Phù: 1273 – 1278.

Trần Thái Tông (1225 -1258)

– Họ và tên: Trần Cảnh. Tên húy là Trần Bồ.

– Nguyên quán: làng Tức Mặc. phủ Thiên Trường, nay là xã Tức Mậc, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định.

– Thân sinh là Trần Thừa, sau được tôn là thượng hoàng và khi mất, miếu hiệu là Thái Tổ, nhưng không làm vua một ngày nào, ngay cả tước thượng hoàng cũng chỉ là hư vị. Thân mẫu người họ Lê, không rõ tên. Tổ tiên nhà Trần là Trần Kinh vốn gốc ở Đông Triều (Quảng Ninh) chuyên nghề đánh cá, đến ở làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc, Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, sinh ra Trần Hấp. Trần Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung. Trần Thừa sinh ra Trần Liễu và Trần Cảnh, sau có mối tình với cô thôn nữ tên Tần ở thôn Bà Liệt sinh ra Trần Bà Liệt.

– Vua sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218) tại làng Tức Mặc.

– Năm 1224, được tuyển vào cung làm chức Chi hậu chánh chi ứng cục (chức việc lo phục dịch cho nữ hoàng của triều Lý là Lý Chiêu Hoàng).

– Tháng 12 năm Ất Dậu (1225), do Trần Thủ Độ bố trí, Trần Cảnh đã kết hôn với Lý Chiêu Hoàng và ngay sau đó được Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi.

– Năm Đinh Dậu (1237), Trần Thái Tông lấy Chiêu Thánh Hoàng hậu đã 12 năm mà chưa có con. Trần Thủ Độ và vợ là công chúa Thiên Cực ép vua bỏ Chiên Thánh Hoàng hậu để láy chị dâu (vợ Trần Liễu) là Thuận Thiên công chúa đã có mang ba tháng làm hoàng hậu.

– Vua lên ngôi tháng 12 năm Ất Dậu (1225), ở ngôi 33 năm (1225 – 1258). Vua có các con Quốc Khang, Thái tử Hoảng, Quang Khải, Nhật Vĩnh, Ích Tắc, Nhật Duật và công chúa Thiều Dương, Thụy Bảo.

– Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258), vua nhường ngôi cho con là thái tử Trần Hoảng để lên làm thượng hoàng, và ở ngôi thượng hoàng 19 năm (1258-1277).

– Vua mất ngày 1 tháng 4 năm Đinh Sửu (1277), thọ 59 tuổi, thụy hiệu là Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế.

– Trong thời gian ở ngôi 33 năm, vua Trần  Thái Tông đã đặt ba niên hiệu sau đây:

  • Kiến Trung: 1225 – 1232
  • Thiên Ứng Chính Bình: 1232 – 1251
  • Nguyên Phong: 1251 – 1258.

Lý Chiêu Hoàng (1224 – 1225)

– Họ và tên: Lý Phật Kim, lại có tên khác là Lý Thiên Hinh Nữ.

– Nữ hoàng sinh vào tháng 9 năm Mậu Dần (1218), là con thứ của vua Lý Huệ Tông, mẹ là Thuận Trinh thái hậu Trần Thị Dung.

– Tháng 10 năm Giáp Thân (1224), được lập làm thái tử và ngay sau đó thì được truyền ngôi.

– Nữ hoàng ở ngôi hơn một năm, đến tháng 12 năm Ất Dậu (1225) thì nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (Trần Thái Tông). Từ đây, bà là Chiêu Thánh hoàng hậu.

– Tháng 1 năm Đinh Dậu (1237), 19 tuổi, vì lí do “không có con”, bà bị phế và giáng làm công chúa. Người thay địa vị hoàng hậu là bà Thuận Thiên (chị ruột của bà, trước đã gả cho Trần Liễu là anh ruột của vua Trần Thái Tông và đã có thai với Trần Liễu được ba tháng).

– Tháng 1 năm Mậu Ngọ (1258), 40 tuổi, bà được đem gả cho Lê Tần (tức Lê Phụ Trần), một danh tướng của triều Trần. Bà mất vào tháng 3 năm Mậu Dần (1278), sau khi đã sanh hạ cho Lê Tần hai người con (một trai, một gái), thọ 60 tuổi.

– Niên hiệu trong thời gian ở ngôi của bà là Thiên Chương Hữu Đạo (1224 – 1225).

Lý Huệ Tông (1210 – 1224)

– Họ và tên: Lý Hạo Sảm.

– Con trưởng của Lý Cao Tông, mẹ là Đàm thái hậu (không rõ tên).

– Vua sinh tháng 7 năm Giáp Dần (1194), được lập làm thái tử vào tháng 1 năm Mậu Thìn (1208). Năm Mậu Thìn (1208) có loạn Quách Bốc, thái tử Sảm theo Tô Trung Từ chạy về Hải Ấp (làng Lưu Xá, Hưng Hà, Thái Bình) vào ở nhà Trần Lý, lấy con gái Trần Lý là Trần Thị Dung làm vợ, phong Trần Lý tước Minh Tự, Tô Trung Từ – Cậu ruột Trần Thị Dung chức Điện tiền chỉ huy sứ. Anh em nhà Trần: Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thủ Độ mộ quân giúp Thái tử Sảm khôi phục kinh đô Thăng Long.

– Vua lên ngôi cuối năm Canh Ngọ (1210), ở ngôi 14 năm.

– Năm Quý Mùi (1223), Trần Thừa được phong làm Phụ quốc Thái úy, Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ.

– Vua Huệ Tông thường rượu chè say khướt, bỏ bê triều chính. Huệ Tông không có con trai, chỉ có hai con gái. Con gái lớn là Thuận Thiên Công chúa đã gả cho Phụng Kiền Vương Trần Liễu. Công chúa thứ hai là Phật Kim được phong làm Thái tử khi 7 tuổi.

– Tháng 10 năm Giáp Thân (1224), vua truyền ngôi cho con gái thứ là Lý Chiêu Hoàng rồi đi tu ở chùa Chân Giáo (trong thành Thăng Long), hiệu là Huệ Quang thiền sư.

– Tháng 8 năm Bính Tuất (1226), vua bị nhà Trần bức tử, thọ 32 tuổi.

– Trong 14 năm ở ngôi, vua Lý Huệ Tông chỉ đặt một niên hiệu, đó là Kiến Gia (1211 – 1224).

Lý Cao Tông (1175 – 1210)

– Họ và tên: Lý Long Trát, lại có tên khác là Lý Long Cán.

– Vua là con thứ 6 của Lý Anh Tông, mẹ là Thuỵ Châu thái hậu, người họ Đỗ.

– Vua sinh ngày 25 tháng 5 năm Quý Tị (1173). Khi Lý Anh Tông mất, Thái tử Long Cán lúc đó chưa đầy 3 tuổi, Chiêu Linh Thái hậu muốn lập con cả của mình là Long Xưởng lên ngôi vua. Bà đem vàng bạc đến đút lót cho vợ Tô Hiến Thành, nhưng Tô Hiến Thành nhất định không nghe, cứ theo di chiếu lập Long Cán lên làm vua. Long Cán lên ngôi vào tháng 7 năm Ất Mùi (1175), ở ngôi 34 năm, mất ngày 28 tháng 10 năm Canh Ngọ (1210), thọ 37 tuổi.

– Trong 34 năm ở ngôi, vua Lý Cao Tông đã đặt 4 niên hiệu, cụ thể như sau:

  • Trinh Phù: 1176 – 1186
  • Thiên Tư Gia Thụy: 1186 – 1202
  • Thiên Gia Bảo Hựu: 1202 – 1205
  • Trị Bình Long Ứng: 1205 – 1210

Lý Anh Tông (1138 – 1175)

– Họ và tên: Lý Thiên Tộ.

– Vua là con trưởng của Lý Thần Tông, mẹ là Lê thái hậu (không rõ tên).

– Vua sinh vào tháng 4 năm Bính Thìn (1136), lên ngôi ngày 1 tháng 10 năm Mậu Ngọ (1138), lúc đó mới 3 tuổi, Lê Thái hậu cầm quyền nhiếp chính, lại tư thông với Đỗ Anh Vũ làm cho triều đình đổ nát, sau nhờ có các trung trần như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Công Tín nên giữ vững được cơ đồ nhà Lý. Vua ở ngôi 37 năm, mất vào tháng 7 năm Ất Mùi (1175), thọ 40 tuổi.

– Trong 37 năm ở ngôi, Lý Anh Tông đã đặt 4 niên hiệu, cụ thể như sau:

  • Thiệu Minh: 1138 – 1140
  • Đại Đình: 1140 – 1162
  • Chính Long Bảo Ứng: 1163 – 1174
  • Thiên Cảm Chí Bảo: 1174 – 1175.

Lý Thần Tông (1128 – 1138)

– Họ và tên Lý Dương Hoán.

– Vua là cháu, gọi vua Lý Nhân Tông bằng bác ruột. Thân sinh của vua là Sùng Hiền Hầu (em ruột Lý Nhân Tông), thân mẫu là Đỗ phu nhân (không rõ tên). Đến tháng 1 năm Kỉ Dậu (1129). Sùng Hiền Hầu được tôn làm thái thượng hoàng, Đỗ phu nhân được tôn làm thái hậu, nhưng đó chỉ là hư vị chứ không có thực quyền.

– Vua sinh tháng 6 năm Bính Thân (1116), đến năm Đinh Dậu (1117) thì được Lý Nhân Tông nhận làm con nuôi.

– Vua lên ngôi cuối tháng 12 năm Đinh Mùi (1127), ở ngôi 10 năm, mất ngày 26 tháng 9 năm Mậu Ngọ (1138), thọ 22 tuổi. Vua khuyến khích phát triển nông nghiệp, thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, cho binh lính đổi phiên, cứ lần lượt 6 tháng đươc về làm ruộng, do vậy nhân dân no đủ, an cư lạc nghiệp.

– Trong thời gian 10 năm ở ngôi, Lý Thần Tông đã đặt hai niên hiệu, đó là:

  • Thiên Thuận: 1128 – 1132
  • Thiên Chương Bảo Tự: 1133 – 1138.

Lý Nhân Tông (1072 – 1127)

– Họ, tên: Lý Càn Đức.

– Vua là con trưởng của Lý Thánh Tông, mẹ là Linh Nhân thái hậu (tức bà Ỷ Lan).

– Vua sinh ngày 25 tháng 1 năm Bính Ngọ (1066) tại kinh thành Thăng Long.

– Lên ngôi tháng 1 năm Nhâm Tí (1072), khi mới 7 tuổi, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan phải buông rèm nhiếp chính. Vua ở ngôi 55 năm, mất ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (1127), thọ 61 tuổi.

– Trong thời gian 55 năm ở ngôi, Lý Nhân Tông đã 8 lần đặt niên hiệu, cụ thể như sau:

  • Thái Ninh: 1072 – 1076
  • Anh Vũ Chiêu Thắng: 1076 – 1084
  • Quảng Hựu: 1085 – 1092
  • Hội Phong: 1092 – 1100
  • Long Phù: 1101 – 1109 (riêng niên hiệu này, sách Đại Việt sử lược chép là Long Phù Nguyên Hoá).
  • Hội Tường Đại Khánh: 1110 – 1119
  • Thiên Phù Duệ Vũ: 1120 – 1126
  • Thiên Phù Khánh Thọ: 1127.

Lý Thánh Tông (1054 – 1072)

– Họ và tên: Lý Nhật Tôn.

– Các bộ chính sử đều chép vua là con trưởng của Lý Thái Tông, mẹ người họ Mai, tước Kim Thiên thái hậu, duy chỉ có sách Đại Việt sử lược chép vua là con thứ ba của Lý Thái Tông và mẹ là Linh Cảm thái hậu.

– Vua sinh ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi (1023) tại kinh thành Thăng Long.

– Được lập làm thái tử ngày 6 tháng 5 năm Mậu Thìn (1028).

– Lên ngôi ngày 1 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1054).

– Vua ở ngôi 18 năm, mất tháng 1 năm Nhâm Tí (1072), hưởng thọ 49 tuổi.

– Trong 18 năm trị vì, vua Lý Thánh Tông đã 5 lần đặt niên hiệu. Đó là:

  • Long Thuỵ Thái Bình: 1054 – 1058
  • Chương Thánh Gia Khánh: 1059 – 1065
  • Long Chương Thiên Tự: 1066 – 1068
  • Thiên Huống Bảo Tượng: 1068 – 1069
  • Thần Vũ: 1069 – 1072.

Lý Thái Tông (1028 – 1054)

– Họ và tên: Lý Phật Mã, lại có tên khác là Lý Đức Chính, con trưởng của Lý Thái Tổ, mẹ là Lê thái hậu (không rõ tên).

– Vua sinh ngày 26 tháng 6 năm Canh Tí (1000) tại Hoa Lư (khi thân sinh còn làm quan cho triều Tiền Lê). Được lập làm thái tử vào tháng 4 năm Nhâm Tí (1012). Vua là người trầm mặc, có trí, biết lo mọi việc, đánh đâu được đấy, năm 1020 quân Chiêm Thành quấy rối biên ải nơi phía Nam, Lý Thái Tổ sai Thái tử làm Nguyên soái, đã đánh tan quân Chiêm Thành, bắt được tướng giặc đem về.

– Vua Lý Thái Tổ sinh các hoàng tử: Phật Mã, Dực Thánh Vương, Khai Quốc Vương Bồ, Đông Chính Vương Lực, Võ Đức Vương Hoàng. Khi Thái Tổ vừa mất các hoàng tử Võ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chính Vương đem quân vây Hoàng thành để tranh ngôi vua với Thái tử. Nhờ có Lê Phụng Hiể trung dũng xông ra chém chết Võ Đức Vương, hai hoàng tử còn lại bỏ chạy.

– Khi làm vua, Người quan tâm mở mang bờ cõi, xây dựng lực lượng để bảo vệ đất nước, đoàn kết các dân tộc ít người, ngày 7 tháng 3 năm Kỷ Tị (1029), vua gả công chúa Bình Dương cho Châu mục châu Lạng là Thân Thiện Thái.

– Vua lên ngôi ngày 4 tháng 3 năm Mậu Thìn (1028), ở ngôi 26 năm, mất ngày 01 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1054) vì bệnh, thọ 54 tuổi.

– Trong thời gian 26 năm ở ngôi, Lý Thái Tông đã 6 lần đặt niên hiệu. Đó là

  • Thiên Thành: 1028 – 1034
  • Thông Thuỵ: 1034 – 1039
  • Càn Phù Hữu Đạo: 1039 – 1042
  • Minh Đạo: 1042 – 1044
  • Thiên Cảm Thánh Vũ: 1044 – 1049
  • Sùng Hưng Đại Bảo: 1049 – 1054

Lý Thái Tổ (1010 – 1028)

– Họ và tên: Lý Công Uẩn.

– Vua sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (974) tại hương Cổ Pháp (nay là Từ Sơn, Bắc Ninh).

– Thân sinh của vua không rõ tên, chỉ biết năm 1010, được vua tôn phong là Hiển Khánh Vương, thân mẫu người họ Phạm (Bà Phạm Thị Ngà, quê làng Dương Lôi, hương Cổ Pháp), được tôn phong là Minh Đức thái hậu. Tương truyền, thân mẫu của vua đi chơi ở chùa Tiên Sơn (Bắc Ninh), đêm nghỉ lại, nằm mơ thấy đi lại với thần nhân mà sinh ra vua. Từ năm lên ba tuổi, vua làm con nuôi của Lý Khánh Văn.

– Thời Lê Ngoạ Triều, vua từ chức Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, được thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Bởi chức này, sử cũ thường gọi vua là Thân vệ.

– Vua lên ngôi tháng 10 năm Kỉ Dậu (1009), nhưng bắt đầu đặt niên hiệu riêng từ 1010 nên sử vẫn thường tính năm đầu đời Lý Thái Tổ là năm 1010. Tháng 7 năm 1010, vua cho dời đô về thành Đại La, một buổi sáng đẹp trời thuyền vừa cập bến, nhà vua thấy Rồng vàng bay lên, do đó đặt tên kinh đô là Thăng Long (Hà Nội)

– Vua ở ngôi 18 năm, mất vì bệnh ngày 3 tháng 3 năm Mậu Thìn (1028), thọ 54 tuổi.

– Trong 18 năm làm vua, vua chỉ dùng một niên hiệu duy nhất là Thuận Thiên.

Lê Ngoạ Triều (1005-1009)

– Họ và tên: Lê Long Đĩnh, lại có tên khác là Lê Chí Trung, con thứ 5 của Lê Hoàn, mẹ là Chi hậu Diệu Nữ. Vua càn rỡ, dâm đãng và tàn bạo, bị bệnh nên lâm triều thường phải nằm, vì vậy có luôn miếu hiệu là Lê Ngoạ Triều.

– Vua sinh năm Bính Tuất, niên hiệu Thiên Phúc thứ 7 (986) được phong làm Khai Minh Vương năm Giáp Thìn (1004). Lê Long Đĩnh giết chết người anh cùng mẹ là Lê Long Việt (tức vua Lê Trung Tông) để giành ngôi báu vào cuối năm 1005.

– Vua ở ngôi 4 năm (1005 – 1009), mất vào tháng 10 năm Kỉ Dậu (1009), thọ 23 tuổi. Lê Long Đĩnh mất, con còn bé, nên dưới sự đạo diễn của quan Chi hậu Nội nhân Đào Cam Mộc, triều thần đã tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế.

– Lê Ngoạ Triều dùng niên hiệu Ứng Thiên của vua cha từ năm 1005 đến năm 1007. Từ năm 1008 đến năm 1009, lấy niên hiệu là Cảnh Thuỵ.

Như vậy, triều Tiền Lê tồn tại 29 năm, gồm ba đời vua. Không thấy sử chép dân số nước nhà thời Tiền Lê. Lãnh thổ thời Tiền Lê tương tự như thời Đinh. Kinh đô nước nhà vẫn là Hoa Lư.

Lê Trung Tông (1005)

– Họ và tên: Lê Long Việt, con thứ ba của Lê Hoàn, mẹ là Chi hậu Diệu Nữ (con gái của quan giữ chức Chi hậu, tên là Diệu, không rõ họ là gì).

– Vua sinh năm Quý Mùi (983), được lập làm thái tử năm Giáp Thìn (1004).

– Tháng 3 năm Ất Tị (1005), Lê Hoàn mất, các con chém giết nhau để giành ngôi vua. Sau 8 tháng đánh nhau quyết liệt, Lê Long Việt được đưa lên ngôi, nhưng ở ngôi chỉ mới ba ngày đã bị người em cùng mẹ là Lê Long Đĩnh giết chết. Vua không kịp đặt niên hiệu. Khi mất mới 22 tuổi, miếu hiệu là Lê Trung Tông.

Lê Hoàn (980-1005)

– Họ và tên: Lê Hoàn.

– Vua sinh năm Tân Sửu (941) ở Ái Châu (nay thuộc Thanh Hoá), trong một gia đình nghèo khổ. Thân sinh của vua không rõ tên, chỉ biết được tôn phong làm Trường Hưng Vương vào cuối năm 980, mẹ là Đặng thị Sen, cũng được tôn phong làm Hoàng thái hậu vào cuối năm 980. Lúc nhỏ, cha mẹ mất sớm nên Lê Hoàn phải đi làm con nuôi cho một vị quan nhỏ. Lớn lên, Lê Hoàn theo Nam Việt Vương Đinh Liễn đã lập được nhiều chiến công.

– Thời Đinh Tiên Hoàng Đế, được trao chức Thập đạo tướng quân là chức đứng đầu lực lượng vũ trang đương thời.

– Tháng 7 năm Canh Thìn (980), vua được triều thần tôn lên ngôi thay cho vua nhà Đinh lúc bấy giờ là Đinh Toàn còn quá nhỏ tuổi. Vua xưng là Đại Hành hoàng đế, phong Dương Vân Nga làm Hoàng hậu.

– Vua ở ngôi 25 năm (980 – 1005).

– Niên hiệu: Thiên Phúc (lấy lại niên hiệu của Đinh Toàn) từ năm 980 đến năm 988, Hưng Thống từ năm 989 đến năm 993 và Ứng Thiên từ năm 994 đến năm 1005.

– Vua mất tháng 3 năm Ất Tị (1005), thọ 64 tuổi.

Đinh Phế Đế (980)

– Họ, tên: Đinh Toàn, con thứ của Đinh Tiên Hoàng Đế, mẹ là Dương Vân Nga.

– Vua sinh năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình thứ 5 (974). Đầu năm Kỉ Mão (979), con trưởng của Đinh Tiên Hoàng Đế là Nam Việt Vương Liễn vì ghen ghét mà giết chết em là thái tử Hạng Lang. Tới tháng 10 năm đó, đến lượt Đinh Tiên Hoàng Đế và Nam Việt Vương Liễn cùng bị Đỗ Thích giết hại. Đinh Toàn nhờ đó được đưa lên ngôi. Vua tôn mẹ làm Hoàng Thái hậu, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm Phó vương nắm giữ quyền bính. Các tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp e sợ Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh liền họp nhau khởi binh nhưng thua trận và đều bị bắt giết.

– Vua ở ngôi 8 tháng, đặt niên hiệu là Thiên Phúc. Tháng 7 năm Canh Thìn (980), vì vua còn quá nhỏ (6 tuổi) mà tình hình đối nội cũng như đối ngoại lại rất rối ren, triều đình đã tôn quan Thập đạo tướng quân của nhà Đinh là Lê Hoàn lên ngôi. Vua từ đó bị phế làm Vệ Vương.

– Năm Tân Sửu (1001), Đinh Toàn cùng vua Lê Đại Hành đi dẹp loạn Cửu Long (thuộc vùng Cẩm Thủy, Thanh Hóa) thì bị trúng tên độc, hy sinh lúc 27 tuổi.

Đinh Tiên Hoàng (968-979)

– Họ và tên: Đinh Bộ Lĩnh.

– Sinh năm Giáp Thân (924), tại Hoan Châu (Nghệ An).

– Vua là con của thứ sứ Hoan Châu Đinh Công Trứ. Nguyên Đinh Công Trứ là bộ tướng của Dương Đình Nghệ. Khi Dương Đình Nghệ chết, Đinh Công Trứ theo về với Ngô Quyền, được Ngô Quyền cho giữ chức thứ sử Hoan Châu như cũ. Đinh Công Trứ mất tại Hoan Châu, thân mẫu của Đinh Bộ Lĩnh người họ Đàm, đem con về quê là đất Trường Châu (nay thuộc Ninh Bình).

– Thời hỗn chiến 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh theo về với Trần Lãm ở Bố Hải Khấu, được Trần Lãm nhận làm con nuôi. Trần Lãm mất, Đinh Bộ Lĩnh được quyền thống lĩnh lực lượng, đem quân về giữ Hoa Lư, lần lượt đánh tan tất cả các sứ quân.

– Năm Mậu Thìn (968) Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, xưng là Đại Thắng Minh Hoang đế, đó là Đinh Tiên Hoàng. Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, niên hiệu là Thái Bình (năm 970) và định đô ở Hoa Lư (nay thuộc Ninh Bình). Nhưng Đinh Tiên Hoàng mắc sai lầm, bỏ con trưởng là Đinh Liễn đã theo Đinh Tiên Hoàng xông pha trận mạc từ thuở hàn vi, để lập con nhỏ là Hạng Lang làm Thái tử, Đinh Liễn tức giận sai người giết Hạng Lang, gây mầm họa loạn lạc về sau.

– Vua ở ngôi 12 năm (từ đầu năm 968 đến cuối năm 979), mất vì bị kẻ bề tôi phản loạn là Đỗ Thích giết vào tháng 10 năm Kỉ Mão (979), thọ 55 tuổi.

Loạn 12 sứ quân

Sau khi Nam Tấn Vương mất, đất nước đã lâm vào một thời kì hỗn chiến loạn lạc giữa các thế lực cát cứ. Sử gọi đó là loạn lạc 12 sứ quân. Danh sách 12 sứ quân đó như sau:

  • Ngô Xương Xí (con của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập) chiếm giữ đất Bình Kiều, nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
  • Trần Lãm (xưng là Trần Minh Công), chiếm giữ đất Bố Hải Khẩu (nay thuộc Tiền Hải, Thái Bình). Đinh Bộ Lĩnh là thuộc tướng của Trần Lãm.
  • Nguyễn Thủ Tiệp (xưng là Nguyễn Lệnh Công), chiếm giữ vùng Tiên Du, Bắc Ninh.
  • Lý Khuê (xưng là Lý Lãng Công), chiếm giữ vùng Siêu Loại, nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh.
  • Lã Đường (xưng là Lã Tá Công), chiếm giữ vùng Tế Giang, nay thuộc Hưng Yên.
  • Phạm Bạch Hổ (xưng là Phạm Phòng Át), chiếm giữ vùng Đằng Châu, nay thuộc Hưng Yên.
  • Nguyễn Siẻu (xưng là Nguyễn Hữu Công), chiếm giữ vùng Phù Liệt, nay là huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội.
  • Nguyễn Khoan (xưng là Nguyễn Thái Bình), chiếm giữ vùng Tam Đới, nay thuộc Vĩnh Phúc.
  • Kiều Công Hãn (xưng là Kiều Tam Chế), chiếm giữ vùng Phong Châu, nay là Phú Thọ.
  • Kiều Thuận (xưng là Kiều Lệnh Công), chiếm giữ vùng Cẩm Khê, nay thuộc vùng giáp giới giữa Hà Tây, Vĩnh Phúc và Phú Thọ.
  • Đỗ Cảnh Thạc, chiếm giữ vùng Đỗ Động Giang, nay thuộc Thanh Oai, Hà Tây.
  • Ngô Nhật Khánh (xưng là Ngô Lãm Công), chiếm giữ vùng Đường Lâm, nay thuộc Hà Tây.

Như vậy, ngoài 12 sứ quân lớn nói trên, những năm từ giữa thế kỉ thứ X trở đi, có những vùng trên lãnh thổ nước gần như không phụ thuộc vào một chính quyền cụ thể nào cả. Tại những vùng này, vai trò của các cự tộc, của các hào trưởng còn rất mạnh. Họ là những sứ quân không xưng tên.

Hậu Ngô Vương (951-965)

– Họ, tên: Ngô Xương Văn (con thứ của Tiền Ngô Vương; mẹ là Dương thái hậu, tức bà Dương Thị Như Ngọc), sinh năm nào không rõ. Theo thỉnh cầu của các tướng lĩnh và triều thần, được sự chuẩn tấu của Dương Thái hậu, Ngô Xương Văn lên ngôi năm Tân Hợi (951), xưng là Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa.

– Cũng trong năm 951, Nam Tấn Vương cho người đi đón anh ruột là Ngô Xương Ngập (trước đó đi lánh nạn Dương Tam Kha) về cùng trông coi việc nước. Ngô Xương Ngập về, xưng là Thiên Sách Vương. Vì lẽ đó, thời Hậu Ngô Vương đồng thời có hai vua.

– Năm Ất Sửu (965), Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn bị tử trận khi đem quân đi đánh ở Thái Bình. Trước đó (năm Giáp Dần, 954), Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập cũng đã mất vì bệnh. Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương thọ bao nhiêu tuổi không rõ.

– Từ khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn mất, đất nước lâm vào một thời kì hỗn chiến loạn lạc, sử gọi là loạn mười hai sứ quân. Con của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí lên nối ngôi, rốt cuộc cũng chỉ thực sự là một trong số 12 sứ quân mà thôi.

Dương Bình Vương (945-950)

– Ho, tên: Dương Tam Kha (con của Dương Đình Nghệ và là em vợ của Ngô Quyền. Sinh và mất năm nào không rõ.

– Lên ngôi năm 945. Bấy giờ, Dương Tam Kha nhận di chiếu lo giúp rập con của Ngô Quyền, nhưng đã cướp ngôi và xưng là Dương Bình Vương. Con trưởng của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập hoảng sợ chạy trốn về Nam Sách (nay thuộc Hải Dương). Dương Tam Kha nhận con thứ của Ngô Quyền là Ngô Xương Văn làm con nuôi. còn các con khác của Ngô Quyền như: Ngô Nam Hưng, Ngô Càn Hưng thì còn bé nên giao cho bà Dương Thị Như Ngọc nuôi.

– Năm Canh Tuất (950), nhân có giặc Chu Thái ở Sơn Tây, Ngô Xương Văn xin đi dẹp loạn, Dương Tam Kha đồng ý cử thêm các tướng Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc cùng đem quân đi đánh. Khi đến Từ Liêm, Ngô Xương Văn đã bàn mưu với hai tướng đem quân trở lại Cổ Loa bắt Dương Tam Kha. Dương Tam Kha bị Ngô Xương Văn lật đổ và bị giáng làm Chương Dương Công, cho được hưởng thực ấp ở Chương Dương (nay thuộc Thường Tín, Hà Tây).

– Dương Bình Vương ở ngôi 5 năm, sau mất năm nào và thọ bao nhiêu tuổi không rõ.

Tiền Ngô Vương (938-944)

– Họ, tên: Ngô Quyền.

– Sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tý (897) tại Phong Châu (nay thuộc Hà Tây). Cha là Ngô Mân, nguyên hào trưởng của vùng này. Năm 931, hưởng ứng lời hiệu triệu của Dương Đình Nghệ, ông vào Thanh Hoá, được Dương Đình Nghệ giữ làm nha tướng và gả con gái Dương Thị Như Ngọc cho

Khi Dương Đình Nghệ cầm quyền, ông được phong làm thứ sử Ái Châu. Năm 937, khi Kiều Công Tiễn giết chết Dương Đình Nghệ, ông đem quân ra giết chết Kiều Công Tiễn và sau đó đánh tan quân Nam Hán xâm lăng ở trận Bạch Đằng lịch sử (năm 938). Sau chiến thắng, ông lên ngôi.

– Năm Kỉ Hợi (939), Ngô Quyền xưng vương, (sử gọi là Tiền Ngô Vương) đóng đô ở Cổ Loa. Con gái của Dương Đình Nghệ là Dương Thị Như Ngọc được phong làm hoàng hậu, đặt ra các quan văn võ, đặt nghi lễ triều đình, thật sự chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, lập ra một quốc gia trường tồn vạn mùa xuân. Nhà yêu nước Phan Bội Châu từng tôn vinh Ngô Quyền là “Vị tổ trung hưng thứ nhất” của dân tộc Việt Nam.

– Thời gian ở ngôi: 6 năm (938 – 944).

– Ngô Quyền mất năm Giáp Thìn (944) thọ 48 tuổi. Trước khi mất Ngô Quyền ủy thác con trưởng là thái tử Ngô Xương Ngập cho em vợ là Dương Tam Kha.

Chính quyền Dương Đình Nghệ (931 – 937)

Dương Đình Nghệ (cũng có sách viết là Dương Diên Nghệ, có lẽ vì trong Hán tự, mặt chữ Đình và chữ Diên gần giống nhau nên nhầm lẫn mà ra), quê ở làng Ràng, xã Dương Xá, nay thuộc huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá, sinh năm nào không rõ. Dưới thời họ Khúc, Dương Đình Nghệ vừa là hào trưởng của đất Dương Xá. vừa là một trong những bộ tướng của họ Khúc.

Khi quân Nam Hán xâm lược và đô hộ nước ta, Dương Đình Nghệ quyết chí nổi dậy giành độc lập. Sử cũ cho biết, ông nuôi đến 3000 nghĩa tử (con nuôi) trong nhà, đồng thời, ra sức hiệu triệu hào kiệt bốn phương hợp sức xướng nghĩa. Những nhân vật nổi tiếng đương thời như: Ngô Quyền ở Phong Châu (nay thuộc Sơn Tây, Hà Tây), Đinh Công Trứ ở Trường Châu (Ninh Bình)… đều theo về với Dương Đình Nghệ.

Năm 931, Dương Đình Nghệ đem quân ra quét sạch bọn đô hộ Nam Hán, giải phóng thành Đại La (Hà Nội), tái lập nền độc lập và tự chủ. Ông tự xưng là Tiết độ sứ, cử Đinh Công Trứ làm thứ sử Hoan Châu, Ngô Quyền làm thứ sử Ái Châu.

Tháng 4 năm 937, Dương Đình Nghệ bị một bộ tướng, cũng là con nuôi của ông giết chết để giành quyền. Kẻ phản bội đó là Kiều Công Tiễn. Đất nước đứng trước một nguy cơ nghiêm trọng mới.

Dương Đình Nghệ cầm quyền được 7 năm, thọ bao nhiêu tuổi không rõ.

Khúc Thừa Mỹ (917-930)

Con của Khúc Hạo. không rõ sinh năm nào. Thời Khúc Hạo, ông từng được cử đi sứ sang Trung Quốc. Khúc Hạo mất, ông được lên nối chức và nhà Hậu Lương cũng phong ông làm An Nam đô hộ, sung Tiết độ sứ.

Tháng 7 năm 930, quân Nam Hán sang xâm lược nước ta. Trong cuộc đọ sức này, Khúc Thừa Mỹ bị thất bại và bị bắt. Sau, không rõ ông mất năm nào, thọ bao nhiêu tuổi.

Khúc Hạo (907-917)

Con của Khúc Thừa Dụ, không rõ sinh năm nào. Năm 906, Khúc Hạo được cha cho giữ chức Tĩnh hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu. Đấy là chức của người cầm đầu lực lượng vũ trang.

Ngày 1 tháng 9 năm 907, hoàng đế của nhà Hậu Lương (một trong Ngũ Đại của Trung Quốc) là Chu Ôn phong cho Khúc Hạo làm “An Nam đô hộ Tiết độ sứ”. Khúc Hạo còn sửa đổi chế độ điền tô và phu dịch đó là “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch”, lập sổ hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán giao cho giáp trưởng trông coi. Bằng những cải cách về hành chính và kinh tế của Khúc Hạo, đã biểu hiện rõ tinh thần tự chủ, tự cường và quyết tâm xây dựng một nước hoàn toàn độc lập của dân tộc.

Năm Đinh Sửu (917), Khúc Hạo mất, truyền ngôi cho con là Khúc Thừa Mỹ.

Khúc Thừa Dụ (905-907)

Sinh năm nào không rõ. Nguyên quán Hồng Châu (nay là vùng Cúc Bồ, Ninh Giang. Hải Dương). Trước năm 905, Khúc Thừa Dụ là hào trưởng của Hồng Châu. Cuối năm 905, Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ (tên chức danh của quan đô hộ Trung Quốc ở nước ta lúc bấy giờ).

Ngày 7 tháng 2 năm 906. vua nhà Đường chẳng những thừa nhận chức tước của Khúc Thừa Dụ mà còn gia phong cho Khúc Thừa Dụ tước Đồng Bình Chương Sự. Mặc dù Khúc Thừa Dụ và các con cháu của ông không xưng đế, xưng vương, những rõ ràng họ Khúc đã có công đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Bắc thuộc và xây dựng nền tảng đầu tiên cho kỷ nguyên độc lập, tự chủ của quốc gia.

Khúc Thừa Dụ mất vì bệnh ngày 23 tháng 7 năm 907, giao quyền lại cho con là Khúc Hạo.

Chính quyền Dương Thanh (819-820)

– Dương Thanh là một vị hào trưởng của đất Hoan Châu (đất này nay thuộc Nghệ An) và cũng là người được nhà Đường cho làm Thứ Sử của châu này. Biết Dương Thanh là người giàu lòng yêu nước, quan đô hộ của nhà Đường là Lý Tượng Cổ đã dùng mưu kế để làm giảm uy tín của ông, đồng thời, tách ông ra khỏi dân châu Hoan.

– Năm 819, Dương Thanh đã phát động cuộc khởi nghĩa lớn, giết được Lý Tượng Cổ, đồng thời thiết lập được hệ thống chính quyền tự chủ do ông đứng đầu.

– Sau nhiều phen đàn áp nhưng bị thất bại, nhà Đường đã dùng kế li gián để chia rẽ lực lượng của Dương Thanh. Ông bị cô lập dần, để rồi cuối cùng, bị tru di tam tộc vào năm 820. Hiện chưa rõ năm sinh nên chưa rõ ông thọ bao nhiêu tuổi.

– Cũng như nhiều vị thủ lĩnh kiệt xuất khác, Dương Thanh không xưng đế hay xưng vương, chưa đặt quốc hiệu và niên hiệu, nhưng chính quyền do ông thiết lập ra thực sự là chính quyền độc lập và tự chủ.

Phùng An (789-791)

– Con của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, không rõ sinh năm nào.

– Nối nghiệp cha, cầm đầu guồng máy chính quyền độc lập và tự chủ kể từ năm 789.

– Năm 791, nhà Đường cử viên tướng nổi tiếng xảo quyệt là Triệu Xương sang đàn áp. Phùng An đầu hàng. Sau, không rõ số phận của Phùng An ra sao.

Bố Cái Đại Vương (?-789)

– Họ và tên: Phùng Hưng, tự là Công Phấn.

– Nguyên quán: Đường Lâm, Phong Châu (đất này nay thuộc huyện Ba Vì – Hà Tây). Phùng Hưng sinh trưởng trong một gia dình đời đời làm quan lang của vùng Phong Châu. Cha là Phùng Hạp Khanh, từng tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế.

– Bấy giờ, nhà Đường đô hộ nước ta. Quan đô hộ là Cao Chính Bình khét tiếng tham lam và tàn bạo, khiến cho nhân dân ta căm phẫn, đồng thời, binh lính của Cao Chính Bình cùng chống đối quyết liệt. Năm Tân Mùi (791), Phùng Hưng cùng các tướng Phùng Dĩnh, Đỗ Anh Hàn, Bồ Phá Cần chia thành 5 đạo quân, bất ngờ tiến đánh thành Tống Bình (Hà Nội). Tướng giặc Cao Chính Bình lo sợ đến ốm mà chết, nghĩa quân chiếm được thành làm kinh đô xây dựng quyền tự chủ lâu dài. Phùng Hưng được nhân dân tôn hiệu la Bố Cái Đại Vương.

– Khoảng 7 năm sau khi cầm đầu guồng máy chính quyền này, Phùng Hưng qua đời (năm 789).

Chính quyền Mai Hắc Đế (722)

– Họ và tên: Mai Thúc Loan (còn có tên khác là Mai Huyền Thành).

– Sinh quán: huyện Thiên Lộc (nay đất sinh quán của ông thuộc Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Sau, gia đình ông di cư về vùng Ngọc Trường (vùng này, nay thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

– Mai Thúc Loan sinh trưởng trong một gia đình nghèo, bản thân ông luôn bị quan lại nhà Đường bắt phải đi phu, phục dịch rất vất vả.

– Năm 713, ông kêu gọi những người dân phu và nhân dân trong vùng nổi dậy khởi nghĩa, nhân tài khắp các châu Hoan, Diễn, Ái theo về tụ hội dưới cờ khởi nghĩa và suy tôn Mai Thúc Loan là Mai Hắc Đế, đóng đô ở thành Vạn An (Nghệ An). Mai Hắc Đế tiến quân giải phóng phủ thành Tống Bình (Hà Nội), bọn đô hộ phải bỏ thành tháo chạy về nước.

– Năm 722, ông phát động và lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa lớn. Cũng ngay năm này, Mai Thúc Loan đã cho xây dựng đại bản doanh tại Hùng Sơn (tục danh là Núi Đụn) và lập căn cứ dọc theo bờ sông Lam (Nghệ An). Sau nhiều trận đánh ác liệt từ lưu vực sông Hồng, đến lưu vực sông Lam, cuối cùng Mai Hắc Đế thất trận, rút vào rừng sâu, ông mất ở trong rừng, con ông nối ngôi được một thời gian, tức là Mai Thiếu Đế.

– Mai Hắc Đế mất năm 722, do chưa rõ năm sinh nên chưa rõ thọ bao nhiêu tuổi.

Chính quyền Đinh Kiến (687)

– Từ năm 618 đến năm 905, đất nước ta bị nhà Đường đô hộ. Năm 679, nhà Đường lập ra An Nam Đô Hộ Phủ. Sử Trung Quốc bắt đầu gọi ta là An Nam kể từ đó.

– Năm 687, quan cai quản An Nam Đô Hộ Phủ của nhà Đường là Lưu Diên Hựu thu thuế rất tham tàn, khiến cho nhân dân ta rất căm phẫn. Nhân cơ hội đó, một vị hào trưởng là Lý Tự Tiên (nay vẫn chưa rõ quê quán) đã bí mật tồ chức một cuộc khởi nghĩa lớn. Nhưng, cơ mưu bị bại lộ, Lý Tự Tiên bị Lưu Diên Hựu giết chết.

– Tiếp nối sự nghiệp của Lý Tự Tiên, một vị hào trưởng cũng là một thuộc tướng của Lý Tự Tiên đã lãnh đạo nhân dân vùng dậy. Vị hào trưởng ấy là Đinh Kiến. Ngay trong năm 687, Đinh Kiến đã giết chết được Lưu Diên Hựu và chiếm được phủ đô hộ là thành Tống Bình (tức Hà Nội ngày nay), đồng thời, nhanh chóng thiết lập một hệ thống chính quyền do ông đứng đầu.

– Đinh Kiến chưa xưng đế hay xưng vương, cũng chưa đặt quốc hiệu hay niên hiệu, nhưng chính quyền do ông đứng đầu thực sự là chính quyền độc lập và tự chủ. Hiện vẫn chưa rõ quê quán cũng như năm sinh và năm mất của Đinh Kiến.

Lý Phật Tử (555-602)

– Năm 546, khi thua trận ở Điển Triệt, lực lượng của Lý Nam Đế bị chia làm hai. Bộ phận thứ nhất do Triệu Quang Phục (người về sau xưng là Triệu Việt Vương) cầm đầu. Triệu Quang Phục là vị tướng được Lý Nam Đế tin cậy mà uỷ thác mọi quyền bính. Bộ phận thứ hai do tướng Lý Phục Man cầm đầu. Lý Phục Man họ tên gì chưa rõ, ông vì có công chinh phục người man, được Lý Nam Đế yêu quý mà đặt tên là Phục Man. lại cho được lấy họ Lý. sử nhân đó gọi là Lý Phục Man. Ông người làng Yên Sở. Làng này nay thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.

– Cũng năm 546, nếu Triệu Quang Phục bám trụ ở đầm Dạ Trạch và chiến đấu ngoan cường với quân nhà Lương, thì Lý Phục Man đã đem lực lượng chạy vào vùng phía tây Thanh Hoá ngày nay.

– Năm 555, Lý Phục Man mất, một vị tướng người cùng họ với Lý Nam Đế là Lý Phật Tử lên thay.

– Năm 557. khi Triệu Việt Vương đánh tan quân nhà Lương thì Lý Phật Tử cũng lập tức đem quân đánh Triệu Việt Vương để giành quyền bính.

– Sau nhiều trận không phân thắng bại hai bên tạm lấy vùng đất tương ứng với huyện Từ Liêm (Hà Nội) ngày nay làm ranh giới. Từ đất này trở về Nam thì do Lý Phật Tử cai quản. trở ra Bắc thì do Triệu Việt Vương cai quản. Lý Phật Tử cho con trai là Nhã Lang kết hôn với con gái của Triệu Việt Vương là Cảo Nương, mượn danh nghĩa thông gia để làm cho Triệu Việt Vương mất cảnh giác.

– Năm 571, Lý Phật Tử bất ngờ cho quân đánh úp, khiến Triệu Việt Vương bị đại bại và bị giết. Lý Phật Tử thâu tóm mọi quyền hành. Sử cũ gọi đó là nhà Hậu Lý Nam Đế.

– Năm 581, nhà Tuỳ được dựng lên. Sau một thời gian lo củng cố quyền thống trị ở Trung Quốc, năm Nhâm Tuất (602), nhà Tuỳ liền dùng áp lực quân sự, khiến Lý Phật Tử phải đầu hàng. Không thấy sử cũ ghi chép gì về số phận của Lý Phật Tử sau khi đầu hàng.

Triệu Việt Vương (546-571)

– Họ và tên: Triệu Quang Phục.

– Nguyên quán: phủ Vĩnh Tường. Phủ này, nay là vùng giáp giới giữa Hà Tây với Vĩnh Phúc. Vốn là con Tiệu Túc, tù trưởng ở Châu Diên (Sơn Tây). Khi Lý Bí phát động khởi nghĩa, Triệu Quang Phục và cha là Triệu Túc cùng hưởng ứng. Khi Lý Bí xưng là Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục được phong tới chức Tả Tướng.

– Năm 546, sau thất bại trong trận đánh ở hồ Điển Triệt, Triệu Quang Phục được Lý Nam Đế uỷ thác quyền trông coi nghĩa binh. Triệu Quang Phục đã đưa lực lượng về đầm Dạ Trạch (đầm này nay thuộc Châu Giang, Hưng Yên) và tổ chức chiến đấu tại đây.

– Ngày 13-4-548, sau khi nghe tin Lý Bí đã qua đời, Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương, dân gian gọi ông là Dạ Trạch Vương.

– Năm 557, Triệu Việt Vương đã đánh tan lực lượng đi càn quét của nhà Lương, giành lại quyền tự chủ cho đất nước, đồng thời, thành lập một guồng máy chính quyền độc lập do ông đứng đầu. Cùng năm, Lý Phật Tử đem quân đánh Triệu Việt Vương để giành ngôi vua về nhà Lý nhưng đánh không thắng, Lý Phật Tử đành phải giảng hòa, để tõ rỏ tình hòa hiếu, Triệu Việt Vương gả con gái là Cảo Nương cho con trai Phật Tử là Nhã Lang.

– Năm Tân Mão (571), do bị Lý Phật Tử tấn công bất ngờ, Triệu Việt Vương thua trận và bị giết. Đời vua Trần Nhân Tông có sắc phong là “Minh Đạo Hoàng Đế”, Trần Anh Tông ban thêm bốn chữ “Thánh Liệt Thần Vũ”.

– Do chưa rõ năm sinh nên chưa rõ Triệu Việt Vương thọ bao nhiêu tuổi.

Lý Đào Lang (Lý Thiên Bảo) (549 – 555)

Lý Thiên Bảo là anh họ của Lý Bôn, sau khi Lý Nam Đế thất bại ở động Khuất Lão, Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử đem một cánh quân rút về Thanh Hóa chống nhau với quân Lương, khi Lý Nam Đế mất, Thiên Bảo xưng Đào Lang Vương, đến năm Ất Hợi (555) Lý Thiên Bảo mất, không con cái, binh quyền về tay Lý Phật Tử.

Lý Nam Đế (542-548)

– Họ và tên: Lý Bí (còn có tên khác là Lý Bôn).

– Nguyên quán là đất Thái Bình (đất này nay thuộc vùng tiếp giáp giữa huyện Thạch Thất và thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây).

– Sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (503), ông là con hào trưởng Lý Toản, mẹ là Lê Thị Oánh, người Ái châu (Thanh Hóa), 5 tuổi bố mất, 7 tuổi mẹ mất, phải ở với chú ruột. Vị pháp tổ thiền sư thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú xin làm con nuôi đưa về chùa Linh Bảo nuôi dạy, hơn mười năm đèn sách chuyên cần, Lý Bí trở thành người học rộng, tài cao, vì vậy được tôn làm thủ lĩnh địa phương.

– Năm 542, Lý Bí phát động khởi nghĩa và chỉ trong vòng ba tháng đã quét sạch quân Lương ra khỏi bờ cõi. Đầu năm 543, vua Lương lại huy động binh mã sang xâm chiếm nước ta một lần nữa. Lý Bí chủ động đem quân đón đánh giặc ở bán đảo Hợp Phố, quân Lương bị tiêu diệt gần hết. Cùng năm, quân Lâm Ấp kéo sang cướp phá quận Nhật Nam, Lý Bí sai lao tướng Phạm Tu kéo quân vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), quân Lâm Ấp bỏ chạy về nước.

– Tháng 2, năm Giáp Tí (544), Lý Bí lên ngôi hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, niên hiệu là Đại Đức (cũng có thư tịch cổ chép là Thiên Đức), đóng đô tại Long Biên (Thuận Thành, Bắc Ninh). Triều Tiền Lý khởi nghiệp từ đây.

– Lý Nam Đế ai dựng một ngôi chùa lớn ở phường Yên Hoa (Yên Phụ) lấy tên là chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc trên đảo Cá Vàng ở Hồ Tây, Hà Nội)

– Đầu năm 545, nhà Lương cử Dương Phiêu làm Thứ sử Giao Châu cùng với tên tướng Trần Bá tiên chia làm hai đường thủy bộ kéo sang xâm lược nước ta. Lý Nam Đế chặn đánh tại vùng sông Lục Đầu (Hải Dương) nhưng vì ít quân, không cản được giặc, vua đành lui quân về ở cửa sông Tô Lịch (Hà Nội), quân địch hung hãn tiến quân, lão tướng Phạm Tu oanh liệt hy sinh, Lý Nam Đế rút quân vào miền núi Vĩnh Phúc và đóng quân tại hồ Điển Triệt (Lập Thạch, Vĩnh Phúc)

– Tướng giặc Trần Bá Tiên lợi dụng một đêm mưa to gió lớn đã thúc quân đánh úp Lý Nam Đế. Vua phải rút vào ẩn khuất tại động Khuất Lão (Tam Nông, Vĩnh Phúc). Anh vua là Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử (người cùng họ) đem một cánh quân lui vào giữ Thanh Hóa. Ở động Khuất Lão, vua ốm nặng, đã trao quyền cho Triệu Quang Phục tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Lương. Ngày 20 tháng 3 năm Mậu Thìn (13-4-548), Lý Nam Đế mất, thọ 45 tuổi.

Bắt đầu Blog tại WordPress.com.

Lên ↑

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu