Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng hậu

Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng hậu Hồ thị, húy là Hồ Thị Được, người huyện Hương Trà phủ Thừa Thiên, nữ nhi Chưởng doanh Hồ Văn Mai. Khi tiến cung hầu tiềm để, Hậu được đổi sang họ Tống. Vào cung được chúa yêu chiều, cho làm Hữu Cung tần thứ 4. Sau đó được thăng Chiêu Nghi. Tính người nhân thuận, cung kính, trong cung đều được cảm hóa vì đức tính Hậu. Sinh được hai hoàng nam: trưởng là Túc Tông Hoàng Đế lúc sinh có hương lạ đầy nhà, thứ là Tứ, phong Luân Quốc công. Ngày 12 tháng 2 năm Bính Thân (1716), Hậu băng, thọ 37 tuổi, tặng Minh Phi Phu Nhân, thụy là Từ Tuệ, táng lăng Vĩnh Thạnh (thuộc xã Trúc Lâm, huyện Hương Trà).

Năm Giáp Tý (1744) Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng tôn thụy là Từ Huệ Cung Thục Kính Phi, sau thêm 2 chữ “Ý Đức”.

Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) truy tôn là Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính Mục Hiếu Minh Hoàng Hậu. Bài sách văn đại lược rằng: Đón quẻ Kiền là quẻ Khôn sánh với đế gọi là hậu. Lễ đặt bởi nghĩa, kính với người tôn, là để tỏ lễ nhà tôn miếu. Kính nghĩ, Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Tống Kính Phi điện hạ: dáng đẹp nổi trâm cài hoa giắt, đức tốt như ngọc cư, ngọc hành. Thùy mị đề tiên phòng gương mẫu ưu cần giúp chúa như thơ Kê minh chung đúc điềm  Hoa chử tốt lành, thịnh vượng về sau thơ Lân chỉ. Cho nên nay trên đội ơn thừa, mở mang nghiệp lớn. Bèn xét lẽ văn, tán dương đức tốt. Cẩn tín sách vàng dâng tôn hiệu là: Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính Mục Hiếu Minh Hoàng Hậu, thờ chung vào gian tả tam nhà Thái Miếu.

Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng hậu

Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng hậu Tống thị, húy là Tống Thị Lĩnh, người huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nữ nhi Thiếu phó Quận công Tống Phước Vinh (truy tặng) và phu nhân Lê thị. Hậu sinh năm Quý Tị (1653). Ban đầu vào hầu nơi tiềm để, rồi được thăng làm Cung tần. Lúc có thai, trên chỗ ở về phương Tây Nam, trời mở một khoanh tròn mây đẹp bay vòng quanh, ở giữa có một chỗ sáng tròn khác thường từ trên không trung mà xuống, ánh sáng soi rọi lên  trời. Người thức giả cho là điềm sinh thánh. Đầy năm, bà sinh con trai, tức là Hiển Tông Hoàng đế. Nguyễn Gia phi không có con, yêu mà vỗ về, nuôi nấng. Ngày 22 tháng 3 năm Bính Tý (1696) Hậu băng, thọ 44 tuổi. Hiển Tông Hoàng Đế truy tôn là Quốc Thái Phu Nhân, táng lăng Vĩnh Mậu (thuộc sơn phận xã Định Môn, huyện Hương Trà).

Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Tiết Tĩnh Thục Hiển Phi, sau thêm 2 chữ “Hiếu Từ”.

Gia Long năm thứ 5, Bính Dần (1806) lại truy tôn là Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiến Thuận Hiếu Nghĩa Hoàng Hậu. Bài sách văn đại lược nói: dựng nghiệp Tây kỳ, bà Thái Nhâm, bà Thái Khương gây Phước cả. Mở nền Đông lạc, bà Mã hậu, bà Đăng hậu nối điềm lành. Đức tốt sánh đời xưa, tên hay để hậu báo. Kính nghĩ, Từ Tiết Tĩnh Thục Hiếu Từ Tống Hiển Phi điện hạ: Trăm nết có đủ, muôn thiện đều kiêm. Bao hàm rộng rãi trên sách Kiền nguyên, nội trị có khuôn phép từ ngọc cư, ngọc hành mở dấu tốt lành sinh ra con trưởng truyền gia vững cơ đổ như thái sơn, bàn thạch. Cho nên nay được nhờ Phước thiêng liêng, mới chịu mệnh sáng, xưng dương đức tốt, để báo tốt lành cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiếu Thuận Hiếu Nghĩa Hoàng Hậu, thờ chung vào gian hữu nhị nhà Thái Miếu.

Hiếu Triết Hoàng hậu

Hiếu Triết Hoàng hậu Tống thị, húy là Nguyễn Thị Đôi, người Quý Huyện, tỉnh Thanh Hóa, nữ nhi Thiếu phó Quận công Tống Phước Khang (truy tặng) và phu nhân Phạm thị. Tính người hiền từ hòa thuận, khi mới vào cung bà được liệt vào hàng Cơ, càng ngày càng được yêu chiều. Bà sinh 2 hoàng nam: con trưởng là Anh Tông Hoàng Đế, con thứ hai là Trân, tặng Thiếu phó, Cương Quận công. Ngày 21 tháng 3 (không rõ năm) Hậu băng, táng lăng Quang Hưng (thuộc sơn phận xã Định Môn, huyện Hương Trà).

Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Tiên Huệ Thánh Tĩnh Phi, sau lại thêm 2 chữ “Trinh Thuận”.

Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) lại truy tôn là Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu Triết Hoàng Hậu.

Bài sách văn lược rằng: Giữ nhân luân, dùng điển lễ, báo nguồn gốc tôn người thân, là đạo hiếu con cháu vậy. Kính nghĩ, Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tống Tĩnh Phi điện hạ sao Bảo vụ sáng soi, quẻ Thần khôn hợp đức. Phép khuê môn tập quen, lễ tôn miếu kính cẩn. Trên sách Kiền nguyên, sinh ra con trưởng, kế thừa dẫn mối lâu dài, khánh trạch mở nền thịnh lớn. Cho nên nay trên nhờ thiêng liêng mở mang bờ cõi, thành nghiệpnày, bèn theo điển lễ, lẽ cả cùng tôn. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là: Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu Triết Hoàng Hậu, thờ chung vào gian tả nhị nhà Thái Miếu.

Chiêu Thánh Hoàng hậu

Chiêu Thánh Hoàng hậu Châu thị, húy là Châu Thị Viên, sinh năm Ất Sửu (1625). Ban đầu, Hậu vào hầu chúa ở nơi tiềm để, phong Chánh phu nhân, sinh 2 hoàng nam, một hoàng nữ. Trưởng tử là Diên được tấn phong Phước Quận công (Phúc Quốc công), con thứ là Thuần, được phong Hiệp Quận công (Quốc Uy công), con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Tào. Năm Giáp Tý (1684), ngày 21 tháng 11, Hậu mất, thọ 60 tuổi, phong tặng Tán Quốc Chánh Phu Nhân, táng lăng Vĩnh Hưng thuộc sơn phận phường An Ninh huyện Hương Thủy.

Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang Phi sau thêm 2 chữ “Trang Liệt”.

Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) lại truy tôn làm Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu.

Bài sách văn đại lược rằng: Có thánh quân nối trị; tức có thục đức tề gia. Cùng tôn cùng quý, là chính lễ vậy. Kính nghĩ, Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang Liệt Chu Trang Phi điện hạ. Dáng tốt trinh tĩnh, phép cả trang nghiêm. Hợp đức với liên nguyên, truyền sáng bởi khôn hậu, phong hóa gây từ thơ “quan thư” ân trạch đầm ấm như thơ “cù mộc”. Khuôn mẫu đáng làm phép, thánh thiện khó hình dung. Nay, đã thành công to, nhớ lại nghiệp tốt, bèn theo điển lễ, báo đáp đức lành. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là: Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu, thờ chung vào gian tả nhị nhà Thái Miếu.

Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng hậu

Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng hậu Đoàn thị, là người huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nữ nhi Thạch Quận công Đoàn Công Nhạn và phu nhân Vũ Thuận Hóa. Hậu là người minh mẫn thông sáng. Năm 15 tuổi đêm hái dâu ở bãi, trong trăng mà hát “Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng. Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa”. Bấy giờ Hy Tông Hoàng đế tuần tra Quảng Nam, Thần Tông Hoàng đế (lúc đó còn là Thế tử) theo hộ giá. Đêm đáp thuyền chơi trăng. Đỗ thuyền ở gành Điện Châu (bây giờ là bãi Ân Phú Tây) câu cá, nghe tiếng hát, lấy làm lạ, sai người đến hỏi, biết là nữ nhi họ Đoàn, cho tiến vào hầu chúa ở tiềm để, được yêu chiều lắm.

Hậu sinh một hoàng nam, ấy là Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế. Năm Tân Sửu (1661), ngày 17 tháng 6, Hậu băng, táng Vĩnh Diện (ở Thượng Cốc Hùng Cương thuộc xã Chiêm Sơn, tỉnh Quảng Nam).

Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Trinh Thục Từ Tĩnh Huệ Phi, sau lại thêm 2 chữ “Mẫn Duệ”. Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) lại truy tôn làm Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Huệ Kính Hiếu Chiêu Hoàng Hậu.

Bài sách văn đại lược nói: “Lễ nhà tôn miếu, kính người mình tôn, yêu người mình thân, là để báo công mà tôn đức vậy. Kính nghĩ, Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Đoàn Huệ Phi điện hạ: sáng thơm tú my, phép tốt trinh thuần. Khôn nguyên hợp đức, phong hóa gây từ đình vi, cảm động kết thai, Phước trạch truyền cho xã tắc. Để Phước yên tốt nối đời vô cùng. Nay, trên nhờ Phước thiêng, lại dựng nghiệp cả. Kính dâng huy chương, để tôn nền tốt. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là: Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Huệ Kính Hiếu Chiêu Hoàng Hậu, thờ chung vào gian hữu nhất nhà Thái Miếu”.

Hy Tông Hiếu Văn Hoàng hậu

Hy Tông Hiếu Văn Hoàng hậu Nguyễn thị, húy là Nguyễn Thị Giai. Tiên tổ là người huyện Nghi Dương tỉnh Hải Dương. Hậu là trưởng nữ Khiêm Vương Mạc Kính Điển. Khi Kính Điển bị bại vong, bà theo chú là Cảnh Huống đem gia quyến vào Nam ẩn ở chùa Lam Sơn, nhân đó nhập tịch ở Quảng Trị. Nguyễn Ngọc Dương vợ Cảnh Huống, là di nương Hy Tông Hoàng đế, nhân tiến Hậu vào hầu chúa ở nơi tiềm để. Tính minh mẫn thuần thục, nói và làm đều đúng mực thước, Hậu được chúa yêu và quý trọng nên được Chúa ban cho họ Nguyễn. Sinh được 5 con trai: Con trưởng là Kỳ, làm Hữu phủ chưởng phủ sự, trấn thủ Quảng Nam – tặng Thiếu bảo, Khánh quận công; con thứ hai tức là Thần Tông Hoàng Đế, con thứ ba là Trung, con thứ tư là An, con thứ năm là Nghĩa chết sớm. Ba con gái: Trưởng là Ngọc Liên, thứ là Ngọc Vạn, út là Ngọc Khoa. Năm Canh Ngọ (1630, ngày mồng 9 tháng 11 Hậu băng, thọ 53 tuổi, truy tặng là Doanh Cơ, đặt tên thụy là Nhã Tiết, táng lăng Vĩnh Diện (ở xã Chiêm Sơn, tỉnh Quảng Nam).

Năm Giáp Tý (1744) Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng tôn thụy là: Huy Cung Từ Thận Thuận Phi.

Năm Bính Dần (1806) Gia Long thứ 5, lại truy tôn làm Huy Cung Từ Thân Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng Hậu.

Bài sách văn đại lược rằng: “Tốt thay đức khôn nguyên, trên sánh với thê Kiều. Phô nêu đức tốt, là để đáp Phước dày mà tỏ đạo hiếu vậy. Kính nghĩ, Huy Cung Nguyễn Thuận Phi điện hạ; trinh tĩnh đoan trang, bao hàm rộng sáng: phong hóa khắp gần xa, đức tốt không bờ bến. Đúc thành giống tết, phồn thịnh Phước to. Nay trên nhờ đức thiêng liêng, nối mãi ngôi tôn quý. Vậy xét điển lễ kính dâng tên hay. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng Hậu, thờ chung vào gian tả nhất nhà Thái Miếu”.

Thái Tổ Gia Dụ Hoàng hậu

Hậu họ Nguyễn, sự tích không rõ. Bà sinh một trai là Hy Tông Hoàng đế. Mùa hạ tháng 5 Hậu băng, táng ở lăng Vĩnh Cơ (thuộc sơn phận Hải Cát Gia Long năm thứ 7 (1808) mới truy dâng tên lăng.

Năm Giáp Tý (1744) Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng thụy tôn là Từ Lương Quang Phục Ý Phi, sau lại thêm hai chữ “Minh Đức”.

Năm Bính Dần (1806), Gia Long truy tôn làm Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ Hoàng Hậu.

Bài sách văn đại lược rằng: “Giương oai cầm cây việt cờ mao, định yên thế nước, thực bởi thánh công, trong sáng như ngọc cư ngọc vũ, chỉnh đốn việc nhà đều nhờ hậu đức. Kính nghĩ, Từ Lương Quan Thục Minh Đức Nguyễn Ý Phi điện hạ: thánh sánh đối với thánh, đến ở ấp mới này. Khuyến tướng sĩ cần lao ở hàng trận, nêu đức, tính trinh tĩnh ở đình vi. Đức hóa khắp nước nhà, Phước trạch nhuần cháu chắt. Cho nên, nay trên nhờ bóng cả, thêm sáng tốt xưa. Coi phước đức này, dám dâng sùng báo. Kính làm sách vàng, dâng tôn hiệu là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ Hoàng Hậu, thờ chung vào Thái Miếu”.

Triệu Tổ Tĩnh Hoàng hậu

Triệu Tổ Tĩnh Hoàng hậu Nguyễn thị, húy là Nguyễn Thị Mai. Có tiên tổ là người huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, sau dời đến ở Quý Huyện, tỉnh Thanh Hóa. Hậu là nữ nhi Đặc tiến, Phụ quốc Thượng tướng quân, Thự vệ sự Nguyễn Minh Biện (năm Minh Mạng thứ 4) (1823) truy phong làm Hựu chính phù bình trung đẳng thần. Có huynh trưởng là Ư Tỵ cũng làm quan nhà Lê đến Thái phó Uy quốc công. Hậu lấy Triệu Tổ Hoàng Đế, sinh được một con trai là Thái Tổ Hoàng Đế, mùa xuân tháng Giêng (không nhớ năm) Hậu băng. Đời truyền là táng chung vào lăng Trường Nguyên ở núi Thiên Tôn, tỉnh Thanh Hóa, phối thờ với Triệu Tổ ở Triệu Miếu trong Hoàng thành.

Năm Giáp Tý (1744), Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng tôn thụy là Từ Tín Chiêu Ý Đức Phi, sau lại thêm hai chữ Hoằng Nhân.

Năm Bính Dần (1806), vua Gia Long truy tôn là Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng Hậu.

Bài sách văn đại lược nói: Khôn nguyên to sáng, đều sánh với đức Kiền. Hậu đức thuần toan cho nên hay giúp chúa; biểu hiện tôn sùng cử hành mọi lễ. Kính nghĩ, Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Nguyễn Đức Phi điện hạ đức kính êm đềm, tiếng tốt vang dậy. Con cháu đông như chung tư đàn đầy nhà cửa. Siêng năng dậy từ gà gáy, chăm sóc gia đình. Cho nên, nay nhờ Phước to; càng thêm sáng rộng. Nết tốt công cao, biểu dương sao dám để chậm. Vậy kính làm sách vàng, dâng tôn hiệu là Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng Hậu, thờ chung vào Triệu Miếu.

Quang Thục Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao

Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, nữ nhi của Tuyên phủ sứ Thái từ Thiếu bảo Quan nội hầu Ý Quốc công Ngô Từ, vốn là gia nô của Thái Tổ Hoàng đế, có công không nhỏ trong khởi nghĩa Lam Sơn (khi ban ngạch công thần, vị trí Ngô Từ cao hơn Nguyễn Trãi).

Thái Tông đăng cơ, lập nữ nhi Đại tư đồ Lê Sát làm Nguyên phi, nữ nhi Tư khấu Lê Ngân làm Chiêu nghi, Ngô thị  cũng cùng chị nhập cunglàm cung tần từ khá sớm. Hành trạng của Ngô thị trong thời gian trước khá mờ nhạt. Đến năm Đại Bảo thứ nhất, bà được tấn phong Tiệp dư, đứng đầu hàng Lục chức, ban cho ở cung Khánh Phương. Trong thời gian đó, Ngô Tiệp dư từng mắc tội bị giam lỏng, may nhờ đại thần Đinh Liệt xin giúp mới được tha.

Nguyên phi, Huệ phi, Dương phi lần lượt bị phế, hậu cung do Thần phi Nguyễn thị làm chủ. Năm 1442, Hoàng đế đột ngột qua đời, gia tộc Nguyễn Trãi bị lụy mà chịu án tru di. Thái tử Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thần phi thành Thái hậu nhiếp chính. Ngô Tiệp dư sinh hạ Hoàng tứ tử Tư Thành, được Thái hậu tấn làm Sung viên ở hàng Cửu tần, đãi ngộ trọng hậu. Sau loạn Nghi Dân, Tư Thành được quần thần tôn lên ngôi, Ngô Sung viên trở thành Hoàng Thái hậu, phong quang vô hạn.

Ngô thị là một trong những phi tần đầu tiên của Thái Tông, nhưng suốt 10 năm cũng chỉ là Tiệp dư, có thể thấy ân sủng không sâu. Nếu như thật sự có thù oán với Nguyễn Thần phi thì ắt đã khó bảo toàn tính mạng. Điều này từng xảy ra vào thời Lý, khi Thái phi Lê thị vì tranh quyền mà bức tử Thượng Dương cung Hoàng Thái hậu, huống hồ Ngô thị chỉ là Tiệp dư. Quan hệ của bà với Thần phi trước nay luôn được cho là đối nghịch, nhưng ngược lại, chính Nguyễn thị là người tấn phong địa vị cho bà, trong khi đó, Quý nhân Bùi thị, nữ nhi của Bùi Cầm Hổ, thân thế cao hơn, sinh hạ Hoàng tam tử cũng chỉ là Quý nhân. Trong suốt triều đại của Nhân Tông, Ngô thị và Tư Thành tuy không vinh quang nhưng bình an mười mấy năm, hơn nữa quan hệ giữa Thái hậu và Tư Thành cũng xem như khá tốt. Đến khi Nghi Dân cướp ngôi, tưởng chừng Ngô thị cũng sẽ bị liên lụy vì quan hệ thân thiết với Thái hậu, nhưng lại dường như không chút ảnh hưởng. 

Ngọc Dao xuất thân không cao cũng không thấp, ân sủng không sâu, vậy mà cứ thế vượt qua hàng loạt biến cố cung đình, dựa dẫm rất nhiều thế lực, nhưng đáng sợ ở chỗ không tỏ ra quá xa cách với ai cũng không quá mật thiết với ai, vừa bảo vệ được bản thân vừa tránh hiềm nghi, cuối cùng đường đường chính chính bước lên bảo tọa Hoàng Thái hậu, xem ra, chính là người lợi hại nhất.

Thiên Thụy Công chúa

Trưởng công chúa, không rõ tên gì, phong hào [Thiên Thụy; 天瑞], trong đó “Thiên” là từ mang ý chỉ về những thứ thuộc về trời, “Thụy” có nghĩa là các loại ngọc, hoặc điềm lành may mắn, suy ra có nghĩa là “ngọc bích của trời” hoặc “điềm lành từ trên trời”.

Trưởng chúa là con gái lớn của Trần Thánh Tông, dựa vào địa vị và phong hào, có lẽ chúa vốn là “Đích công chúa”, mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu. Nếu thế chúa là em gái cùng mẹ của Trần Nhân Tông.

Liệt truyện về Trưởng chúa lớn nhất là vụ việc chúa tư thông với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, trong khi Trưởng chúa đã đính hôn với Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn. Sự việc lộ ra, Trần Khánh Dư bị định tội, còn không rõ Trưởng công chúa như thế nào.

Theo dã sử, chính anh trai Trưởng chúa đã lệnh bắt xuất gia về một vùng quê hẻo lánh ven sông Văn Úc. Điều này có lẽ là đúng, vì vào năm Mậu Thân (1308), Nhân Tông băng thệ tại Yên Tử, trước đó đã xuống núi thăm em gái. Hai anh em khứ thế trong cùng một năm ấy.

Lý Thánh Tông phi, Linh Nhân Hoàng Thái hậu

Lý Thánh Tông phi, Linh Nhân hoàng thái hậu, Lê thị, húy không rõ, hiệu Ỷ Lan. Hầu Thánh Tông hoàng đế, sơ nhậm Phu nhân. Sinh Nhân Tông và Minh Nhân vương, tiến Nguyên phi. Nhân Tông đăng cơ, tôn vị Hoàng thái phi. Sau, Thượng Dương Thái hậu bạo băng, tiến tôn làm Hoàng thái hậu.

Hậu có tính ghen, thấy Thượng Dương cung Hoàng thái hậu được dự triều, bèn khóc lóc kêu oan với Nhân Tông rằng:”Mẫu phi khó nhọc nuôi con, phú quý đến tay thì người khác hưởng mất! Con xem phải để mẹ già ở chỗ nào!”. Thế là, Thượng Dương Thái hậu cùng 72 cung nhân bị giam vào Thượng Dương cung, sau ép tuẫn tang.

Năm Hội Tường Đại Khánh thứ 8, Đinh Dậu, tháng 7, Hậu băng. Ba cung nữ thân cận đầu bị bắt ép tuẫn tang. Thụy viết Linh Nhân Phù Thánh Hoàng thái hậu. An táng ở Thọ Lăng, Thiên Đức phủ.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Nhân Tông là người nhân hiếu, Linh Nhân là người sùng Phật, sao lại đến nỗi giết Đích Thái hậu, hãm hại người vô tội, tàn nhẫn đến thế ư?

Lưỡng cung Thái hậu đấu pháp

Lý triều Anh Tông hoàng đế, đương sinh thời có khá nhiều hoàng tử. Thái tử Long Xưởng, vào thời kì cuối bị vu tội tư thông với Nguyên phi Từ thị, do đó bị bãi chức Thái tử. Chấn động triều đình.

Giữa lúc đó, Thụy Châu phu nhân Đỗ thị hạ sinh Hoàng lục tử Lý Long Trát. Hoàng tử thông minh khác thường, Đỗ thị có sủng, nên lập làm Thái tử. Sau, Anh Tông băng, Thái tử kế vị, tức Cao Tông. Tôn đích mẫu Hoàng hậu làm Chiêu Linh Hoàng Thái hậu, sinh mẫu Đỗ thị làm Chiêu Thiên Chí Lý Hoàng Thái hậu.

Trước khi băng, Anh Tông di mệnh Tô Hiến Thành làm Quyền nhiếp chính sự. Chiêu Linh Thái hậu muốn phế Cao Tông để lập Long Xưởng, nhưng bị Hiến Thành thoái từ.

Chiêu Linh Thái hậu bèn triệu gấp Phế Thái tử vào, tính mưu việc phế lập, nhưng Hiến Thành chấn chỉnh quân Túc vệ, cho chặn lại từ Ngân Hà môn. Sau ba năm mãn tang, Chiêu Linh Thái hậu tiếp tục liên lạc các cựu thần mưu việc phế lập, nhưng tất cả đều về phe của Đỗ Thái hậu, việc từ đó không thành.

Đỗ Thái hậu cho em trai Đỗ An Di làm chức Thái sư Đồng bình chương sự. Sau khi ngăn cản Phế Thái tử, Hiến Thành cũng qua đời, để lại toàn bộ quyền lực cho họ Đỗ nắm giữ. Trước khi qua đời, Tô Hiến Thành từng tiến cử người có khả năng đảm nhiệm chức vụ của mình, nhưng Đỗ Thái hậu chỉ đồng ý cho có lệ. Sau khi Hiến Thành băng, Đỗ thị hoàn toàn thay đổi quan chức theo ý của ngoại thích họ Đỗ.

Thánh Tổ Gia phi Phạm thị

Thánh Tổ Minh Mạng Hoàng đế Gia phi Phạm thị, húy là Tuyết, còn có húy khác là Hà, nữ nhi Quang Lộc tự Thiếu khanh Phạm Văn Chẩn (truy phong), người ở Tuy Viễn, Bình Định. Năm sinh và thời điểm trở thành Phủ thiếp của bà đều không được ghi lại, chỉ biết đến năm Gia Long thứ 9 (1810), bà sinh hạ tam tử Yến (tức Thọ Xuân vương Nguyễn Phúc Miên Định, tuy nhiên, chỉ 2 năm sau thì bạo bệnh qua đời. Năm Minh Mạng thứ 2, Phạm thị được truy phong làm Tu nghi, thụy Đoan Lệ, phối thờ cùng Chiêu nghi Hồ thị (tức Tá Thiên Nhân Hoàng hậu), gọi là Hồ Phạm Nhị tần từ. Lưu ý rằng, từ thời Gia Long đến Minh Mạng sơ niên, quy chế hậu cung gồm Tam phi, Tam tu, Cửu tần, Tam chiêu, Tam sung, Lục chức. Minh Mạng đăng cơ bỏ trống Phi vị, phi tần còn sống được phong cao nhất chỉ là Hiền tần trong Cửu tần, nhưng lại truy phong Phạm thị lên hàng Tu nghi trong hàng Tam tu, cao hơn Cửu tần một bậc, thậm chí Nguyên phối Hồ thị cũng chỉ là Chiêu nghi. Có thể thấy, vị trí của vị Phủ thiếp này đối với Minh Mạng là không hề nhỏ.

Năm Minh Mạng thứ 17, Hoàng đế thay đổi thứ bậc phi tần, quy định Nhất giai gồm Quý phi, Hiền phi, Thần phi, Nhị giai gồm Đức phi, Thục phi, Huệ phi, không lâu sau liền đổi Đức phi thành Gia phi. Hiền tần Ngô thị tấn phong Hiền phi, Chiêu nghi Hồ thị truy làm Thần phi, Tu nghi Phạm thị truy làm Gia phi, được thờ riêng ở Gia phi từ.

Lê Hoàn với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Khi nhà Đinh thành lập, vào năm 971 ông được phong chức Thập đạo tướng quân Điện tiền chỉ huy sứ. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị ám hại, Lê Hoàn cùng các tướng lĩnh đã đưa Đinh Toàn lên ngôi vua, rồi được cử giúp vua trị nước. Khi triều Tống chuẩn bị sang xâm lược nước ta, nhận thấy Đinh Toàn còn nhỏ tuổi, không thể đảm đương gánh nặng giang sơn và tổ chức cả nước chống lại sự xâm lăng của nhà Tống, Dương Thái hậu đã khuyên mời Lê Hoàn lên làm vua. Lê Hoàn cùng các tướng lĩnh đã gấp rút tổ chức kháng chiến chống ngoại xâm. Để có thêm thời gian chuẩn bị, Lê Hoàn đã cử người sang Trung Quốc dâng sớ cho triều Tống “xin được làm phiên thần” nhưng nhà Tống không chấp nhận mà còn tăng cường việc chuẩn bị đem quân sang xâm lược nước ta. Quân địch chia làm hai đường : bộ binh do Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng và Trần Khâm Tộ chỉ huy tiến theo đường Lạng Sơn vào; Thủy binh do Lưu Trừng, Giả Thực chỉ huy tiến về cửa sông Bạch Đằng. Hai đạo quân dự định sẽ phối hợp nhau tiến vào vây hãm kinh đô Hoa Lư.

Mùa xuân năm 981, quân Tống ồ ạt kéo vào nước ta theo hai đường thủy bộ. Khi thủy quân của giặc kéo đến vùng biển gần cửa sông Bạch Đằng, Lê Hoàn thân chinh đốc quân ra chống giặc. Đang lúc triều lên, quân ta kéo ra nghênh chiến rồi cho thuyền chạy lui. Thế địch vốn đang mạnh, lại thấy quân ta bỏ chạy, Lưu Trừng hăng hái thúc chiến thuyền đuổi theo. Đúng lúc nước triều rút, vua Lê cho đánh hỏa công vào thuyền địch và dùng cung thủ bắn vào quân nhà Tống. Quân Tống trở nên hỗn loạn, tìm cách tháo chạy. Quân của ta do tướng Phạm Cự Lạng chỉ huy bất gờ từ nhánh sông nhỏ tiến ra chặn đường lui của giặc, thuyền giặc bị tạt vào cọc nhọn, lại bị đánh gấp nên chết vô số.

Trong lúc đó, Hầu Nhân Bảo chờ mãi không thấy tin tức gì từ thủy quân đành đốc thúc Tôn Toàn Hưng, bấy giờ còn đóng ở Hoa Bộ (Nam Quảng Đông, Trung Quốc), tiến xuống nhưng Toàn Hưng không chịu. Hầu Nhân Bảo đành tự mình đốc quân đánh xuống theo đường sông Chi Lăng. Cánh quân này vừa tới ải Chi Lăng – một cửa ải hiểm yếu, nhỏ hẹp trên đường từ Lạng Sơn về thành Đại La. Tại đây, quân Tống do chưa kịp phòng bị, lại bị tiến đánh bất ngờ, chủ tướng Hầu Nhân Bảo chết tại trận, quân giặc rơi vào tình trạng hỗn loạn. Trần Khâm Tộ được tin Hầu Nhân Bảo chết, hoảng sợ ra lệnh cho rút quân về nước nhưng không kịp. Quá nửa số quân của Trần Khâm Tộ cùng chủ tướng bị tử trận. Cuộc kháng chiến chống quân Tống giành thắng lợi vẻ vang.

Mặt khác, năm 979 khi Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn bị sát hại, vua Champa nghe lời xúi giục của Ngô Nhật Khánh (phò mã của vua Đinh) đã cho thủy quân tiến ra, dư định xâm lấn phía Nam nước ta nhưng hạm thuyền bị bão làm đắm, quân lính chết đuối, trong đó có cả Ngô Nhật Khánh. Sau đó, nhà Lê cố gắng khôi phục quan hệ giao bang hòa hiếu nhưng Champa từ chối. Năm 982, Lê Hoàn cho quân đánh Champa, tiến quân vào thẳng kinh đô (Đồng Dương, Quảng Nam) phá hủy thành trì rồi rút quân về. Từ đó Champa phải thần phục Đại Cồ Việt, song luôn tìm cách quấy phá bờ cõi.

Đối với nhà Tống, sau chiến tranh, năm 982, vua Lê cho sứ giả sang cầu phong và đặt quan hệ hòa hiếu. Năm 983, sứ nhà Tống sang giao hảo, phong chiếu cho vua Đại Cồ Việt.. Tiếp đó, năm 986 nhà Tống lại cử sứ bộ sang, Lê Hoàn nhân đó trao trả hai tên tướng Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân. Từ đó, quan hệ giao ban hai nước nhìn chung tốt đẹp.

Thế là sau khi lên ngôi vua, Lê Hoàn đã lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống Tống thắng lợi. Trong những năm sau đó, vua không chỉ ra sức củng cố chính quyền, khuyến khích sản xuất nông nghiệp mà còn thực hiện chính sách đối ngoại vừa kiên quyết vừa mềm dẻo, khôn khéo để giữ vững độc lập, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Nguyễn Bảo Đại (1925 – 1945)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ. Tên húy là Phúc Thuyển.

– Con của Nguyễn Hoằng Tông (Khải Định).

– Sinh ngày 23 tháng 9 năm Quý Sửu (28-4-1922), ngày 2 tháng 4 năm Nhâm Tuất (28-4-1922) được phong Đông cung Thái tử và đưa sang Pháp đào tạo.

– Lên nối ngôi năm 1925, niên hiệu là Bảo Đại.

– Tháng 8 năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Bảo Đại thoái vị. Triều Nguyễn đến đó là chấm dứt. Sau đó công dân Vĩnh Thụy được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm cố vấn cho Chính phủ lâm thời. Năm 1946, ông tham gia phái đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa sang Trung Quốc và ở lại nước ngoài. Tháng 4 năm 1949, Pháp đưa ông về làm Quốc trưởng bù nhìn, sau bị Ngô Đình Diệm lật đổ. Tháng 10 năm 1956 ông sang Pháp sống lưu vong. Ngày 01 tháng 8 năm 1997 ông mất tại Pháp, thọ 85 tuổi.

Nguyễn Hoằng Tông (1916 – 1925)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Bửu Đảo. Tên húy là Phúc Tuấn.

– Con của Nguyễn Cảnh Tông (Đồng Khánh).

– Sinh ngày 1 tháng 9 năm Ất Dậu (8-10-1885)

– Lên ngôi năm 1916, ở ngôi 9 năm, niên hiệu là Khải Định.

– Là tay sai của Pháp, từng sang Pháp (năm 1922), mất vì bệnh ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu (6-11-1925), thọ 41 tuổi, trị vì được 9 năm.

Nguyễn Duy Tân (1907 – 1916)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Vĩnh San. Tên húy là Phúc Hoàng.

– Con thứ 8 của Nguyễn Phúc Bửu Lân (Thành Thái).

– Sinh ngày 26 tháng 8 năm Canh Tý (1990).

– Lên ngôi năm 1907, ở ngôi 9 năm, lấy niên hiệu là Duy Tân. Năm 1916, lãnh đạo khởi nghĩa chống Pháp (cùng với Thái Phiên, Trần Cao Vân…) nhưng cuộc khởi nghĩa bị bại lộ. Vua bị bắt ngày 6 tháng 5 năm 1916 tại Quảng Ngãi. Sau bị đày sang đảo Réunion.

– Trong Thế chiến thứ hai, vua Duy Tân từng tham gia lực lượng quân đồng minh chống phát-xít và được giải ngũ với hàm thiếu tá không quân. Vua Duy Tân mất trong một tai nạn máy bay vào ngày 21 tháng 11 năm Ất Dậu (25-12-1945) khi đang trở về Việt Nam. Ngày 2 tháng 4 năm 1987, thi hài vua Duy Tân được đem về táng tại Huế (bên cạnh mộ của Thành Thái). Thọ 46 tuổi.

Nguyễn Thành Thái (1889 – 1907)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Bửu Lân. Tên húy là Phúc Chiêu.

– Con của vua Dục Đức, thân mẫu là bà Phan Thị Điểu (sau được tôn phong là Từ Minh Huệ Thái hậu).

– Sinh ngày 22 tháng 2 năm Kĩ Mão (1879).

– Khi Đồng Khánh mất, các con còn quá nhỏ. Triều đình Huế vâng chỉ của Nghi Thiên Vương Hàng hậu (vợ Thiệu Trị) và Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (vợ Tự Đức) đón Bửu Lân về cung và lên ngôi vua vào ngày 2 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (1889), niên hiệu là Thành Thái.

– Thành Thái từ nhỏ sống ở ngoại thành với nhân dân lao động nên hiểu được cảnh nước mất nhà tan, vì thế khi lên ngôi, ông sớm có ý thức về quốc sự, có ý thức tự cường dân tộc và cách tân đất nước, song đều bị thực dân Pháp ngăn chặn.

– Năm 12 tháng 9 năm 1907, bị Pháp đưa đi an trí ở Cap Saint Jacques, Vũng Tàu. Đến năm Bính Thìn (1916) bị đày sang đảo Réunion (châu Phi thuộc Pháp) cùng với con là vua Duy Tân.

– Năm 1947 về nước, sống tại Sài Gòn nhưng bị quản thúc.

– Năm 1951 được về thăm Huế một lần.

– Mất ngày 18 tháng 2 năm Ất Mùi (1955), thi hài được đem ra Huế, thọ 77 tuổi.

Nguyễn Cảnh Tông (1885 – 1888)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Ứng Xuy. Tên húy là Phúc Biện.

– Con của Kiên Thái Vương (Nguyễn Phúc Hồng Cai), mẫu thân là Bùi Thị Thanh, anh của Nguyễn Giản Tông (Kiến Phúc) và Nguyễn Hàm Nghi.

– Sinh ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tý (1864).

– Lên ngôi ngày 6 tháng 8 năm Ất Dậu (1885) sau khi vua Hàm Nghi bỏ kinh đô chạy ra Quảng Trị, xuống chiếu Cần Vương chống Pháp.

– Mất vì bệnh ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tí (1888), thọ 25 tuổi., ở ngôi được 3 năm, có 6 hoàng tử và 3 công chúa.

– Niên hiệu khi ở ngôi: Đồng Khánh.

Nguyễn Hàm Nghi (1884 -1888)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Ưng Lịch.

– Con của Kiên Thái Vương (Nguyễn Phúc Hồng Cai), em ruột Kiến Phúc.

– Sinh ngày 17 tháng 6 năm Tân Mùi (1871), lên ngôi ngày 12 tháng 6 năm Giáp Thân (1884), đặt niên hiệu là Hàm Nghi từ năm 1885.

– Ngày 23-6-1885, xuất bôn để lãnh đạo phong trào chống Pháp, vua phê chuẩn chiếu Cần Vương, dân chún và sĩ phu cả nước liên tiếp đứng lên chống Pháp, lập căn cứ tại Tuyên Hoá (Quảng Bình).

– Ngày 26 tháng 9 năm Mậu Tí (1888), bi tên phản thần là Trương Quang Ngọc bắt nạp cho Pháp. bị Pháp đưa đi an trí tại Thuận An một thời gian ngắn, sau đó, ngày 13 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (1889) đày sang Algérie (An-giê-ri) và mất tại Algérie vào ngày 28 tháng 11 năm Nhâm Ngọ (1943), thọ 73 tuổi.

Nguyễn Giản Tông (1884)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Ưng Đăng. Tên húy là Phúc Hạo.

– Sinh ngày 2 tháng Giêng năm Kỉ Tị (1869). Con của Kiên Thái Vương (Nguyễn Phúc Hồng Cai), nhưng lại làm con nuôi của Nguyễn Dực Tông (Tự Đức), do Học phi Nguyễn Thị Chuyên nuôi dưỡng.

– Lên nối ngôi sau khi Hiệp Hoà bị giết (11 – 1883) vào ngày 3 tháng 11 năm 1883, lúc đó 14 tuổi.

– Vua ở ngôi đến ngày 6 tháng 4 năm Giáp Thân (1884) thì mất vì bệnh, thọ 15 tuổi.

– Niên hiệu: Kiến Phúc.

Nguyễn Hiệp Hoà (1883)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Hồng Dật.

– Con út của Nguyễn Hiến Tổ (Thiệu Trị), em của Nguyễn Dực Tông (Tự Đức), sinh tháng 9 năm 1846.

– Được Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đưa lên ngôi để thay Dục Đức (Nguyễn Phúc Ưng Chân) vào tháng 6 năm 1883. Hiệp Hòa lên nối ngôi, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cậy công nên chuyên quyền nên vua rất muốn tước bớt quyền hành của họ. Sau đó, vua nhận được mật sớ của Hồng Sâm và Hồng Phi (Tham tri bộ Lại, con của Tùng Thiện Vương) xin giết hai quyền thần. Việc bị bại lộ, Hồng Sâm, Hồng Phi và Trần Tiến Thành đều bị giết chết.

– Ở ngôi được 4 tháng (từ tháng 8 đến tháng 11 – 1883), niên hiệu Hiệp Hoà. mất ngày 29 tháng 11 năm 1883, vì bị giết.

Nguyễn Dục Đức (1883)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Ưng Chân.

– Sinh ngày 4 tháng Giêng năm Quý Sửu (1853)

– Con của Nguyễn Phúc Hồng Y nhưng lại là con nuôi của Nguyễn Dực Tông (Tự Đức).

– Lên ngôi theo di chiếu của Tự Đức, nhưng các quan phụ chính đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vì không ưa nên vin vào cớ di chiếu có đoạn nói mắt Dục Đức có tật, rồi phế đi khi ông vừa lên ngôi được ba ngày (19, 20 và 21 tháng 7 năm 1883).

– Ngày 6 tháng 9 năm Giáp Thân (1884), vua qua đời, thọ 30 tuổi. Mãi đến 20 năm sau, con trai thứ 7 là vua Thành Thái mới khôi phục đế hiệu cho ông là “Cung Tôn Huệ Hoàng đế”.

Nguyễn Dực Tông (1848 – 1883)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Thì, hiệu là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm.

– Con thứ hai của Nguyễn Hiến Tổ (Thiệu Trị), thân mẫu là bà Phạm Thị Hàng (con gái Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng, sau được tôn phong là Thái hậu Từ Dũ).

– Sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỉ Sửu (1829).

– Lúc nhỏ được phong là Phước Tuy Công, lên nối ngôi từ tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), đặt niên hiệu là Tự Đức từ năm 1848, lúc đó 19 tuổi.

– Ngày 31 tháng 8 năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha kéo chiến hạm trải dài cửa biển Đà Nằng. Sáng ngày 1 tháng 9 năm 1858, chúng cho tàu chiến bắn đai bác lên các đồn Điện Hải, An Hải, mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Đầu năm Tân Dậu (1861), giặc Pháp đánh chiếm thành Gia Định (Sài Gòn)

– Do triều đình ươn hèn, nên phải ký Hòa ước Quý Mùi (1883) và Hiệp ước Patenotre (1884) chia đất nước làm 3 kỳ (Bắc, Trung và Nam Kỳ) chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp.

– Ở ngôi 35 năm, mất ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (1883), thọ 54 tuổi.

Nguyễn Hiến Tổ (1841 – 1847)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Miên Tông. Tên húy là Phúc Tuyền

– Con trưởng của Nguyễn Thánh Tổ (Minh Mạng), thân mẫu là Thuận Đức Thần phi Hồ Thị (tên húy là Hồ Thị Hoa, người Bình An, Biên Hoà, nay thuộc Thuận An, Bình Dương). Sau bà được tôn phong là Tả Thiên Nhân Hoàng hậu.

– Sinh ngày 11 tháng 5 năm Đinh Mão (1807)

– Lên nối ngôi vào ngày 20 tháng Giêng năm Tân Sửu (1841), lấy niên hiệu là Thiệu Trị, lúc đó đã 34 tuổi.

– Mất ngày 27 tháng 9 năm Đinh Mùi (1847), thọ 40 tuổi. Thiệu Trị có 29 hoàng tử và 35 công chúa.

Nguyễn Thánh Tổ (1820 – 1840)

– Họ và tên: Nguyễn Phước Hiệu, hiệu là Phúc Đảm.

– Con thứ của Nguyễn Thế Tổ (Gia Long), thân mẫu người họ Trần, sau được tôn phong là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu.

– Sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi (1791). Được lập làm thái tử tháng 6 năm Bính Tí (1816).

– Lên ngôi tháng 12 năm 1819, niên hiệu là Minh Mạng.

– Năm 1831 – 1832, vua cải cách hành chính, bỏ hai tổng trấn, chia cả nước thành 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên.

– Năm 1838, vua đổi tên nước là Đại Nam.

– Ở ngôi 20 năm, mất ngày 28 tháng 12 năm Canh Tí (1841), thọ 51 tuổi. Vua có 78 hoàng tử và 64 công chúa.

Nguyễn Thế Tổ (1802 – 1819)

– Họ và tên: Nguyễn Phúc Chủng, tự là Phúc Ánh.

– Con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân (Nguyễn Phúc Luân là con thứ ba của chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), mẫu thân là Nguyễn Thị (húy là Nguyễn Thị Hoàn, con gái Diễm Quốc công Nguyễn Phúc Trung, người làng Minh Linh, phủ Thừa Thiên). Nguyễn Phúc Luân bị Trương Phúc Loan giết hại vào năm 1765. Ông có 5 người con trai nhưng bốn người mất sớm, chỉ còn lại Nguyễn Phúc Ánh mà thôi.

– Sinh ngày 15 tháng 1 năm Nhâm Ngọ (1762).

– Năm 1774, khi quân chúa Trịnh đánh chiếm Phú Xuân, chúa Nguyễn chạy vào Nam để tránh quân Trịnh và quân Tây Sơn. Nguyễn Ánh theo chúa Nguyễn vào Gia Định.

– Năm 1780, khi chúa Nguyễn bị Tây Sơn giết, Nguyễn Ánh lên ngôi vương, quy tụ lực lượng để chống Tây Sơn.

– Ngày 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), sau khi thắng Tây Sơn và chiếm được toàn cõi, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Gia Long. Gia Long có 13 hoàng tử và 19 công chúa. Con cả là Chiêu đã mất sớm. Con thứ là Hoàng tử Cảnh từng theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện, về nước được lập làm Thái tử nhưng đến năm 1801 bị bệnh đậu mùa rồi mất. Con của người vợ thứ hai là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị (người huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, con gái Thọ Quốc Công Trần Hưng Đạt) là Hoàng tử Đảm được phong Thái tử.

– Mất ngày 19 tháng 12 năm Kỉ Mão (1820), thọ 59 tuổi, ở ngôi chúa 25 năm, ở ngôi vua 17 năm.

Nguyễn Quang Toản (1783 – 1802)

– Con trưởng của Quang Trung, mẹ người họ Phạm (mất trước Quang Trung, khi sống được Quang Trung phong là Chánh cung Hoàng hậu, khi mất được Quang Trung truy tặng là Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần Vũ, Chánh Hoàng hậu).

– Sinh năm Quý Mão (1783), lúc nhỏ có tên là Trác, do vậy cũng có tên khác lúc nhỏ là ông hoàng Trác.

– Nối ngôi từ tháng 9 năm 1792, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Dùng cậu là Bùi Đắc Tuyên làm Thái sư Giám quốc trông coi việc trong ngoài nên dẫn đến việc Đắc Tuyên ngày càng chuyên quyền. Tin lời gian thần gièm pha, Quang Toản đã rút hết binh quyền của Trần Quang Diệu, dẫn đến việc nội bộ tướng sĩ Tây Sơn lục đục, binh lực ngày càng suy yếu.

– Năm Canh Thân (1800), Nguyễn Ánh vượt biển đánh vào Quy Nhơn, tướng Tây Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng. Năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân, Quang Toản chống giữ không nổi đành phải chạy ra Bắc Hà, đổi niên hiệu là Bảo Hưng.

– Vua ở ngôi 10 năm, sau bị Gia Long (Nguyễn Ánh) bắt và giết vào ngày 7 tháng 10 năm Nhâm Tuất (1802).

Nguyễn Huệ (1753 – 1792)

– Con thứ ba của ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng. Nguyễn Huệ còn có tên gọi khác là Nguyễn Văn Thơm và Nguyễn Văn Bình. Đương thời, dân địa phương thường gọi là ông Ba Thơm.

– Sinh năm 1753.

– Năm 1771, tham gia khởi xướng và là một trong những lãnh tụ của phong trào Tây Sơn.

– Tháng 3 năm 1776, khi Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương, ông được phong làm Phụ chính.

– Năm 1778, được phong làm Long Nhương tướng quân.

– Cuối năm 1784, đầu năm 1785, ông là tổng chỉ huy quân đội Tây Sơn, đánh trận quyết định với quân Xiêm La xâm lược do Nguyễn Ánh rước về và đã thắng vang dội ở Rạch Gầm – Xoài Mút. Sau khi vua Lê Hiển Tông tiếp kiến Nguyễn Huệ tại điện Vạn Thọ, đã phong cho Huệ làm Nguyễn Súy Dực chính phù vận Uy Quốc công và gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ.

– Năm 1786, khi Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế, ông được phong làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất từ Bến Ván (Quảng Nam) ra Bắc.

– Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788) tức ngày 22-12-1788, khi Lê Chiêu Thống rước quân xâm lược Mãn Thanh về giày xéo đất nước, để quy tụ lực lượng vào sự nghiệp chống xâm lăng, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung. Xuân Kỉ Dậu (1789), đại phá quân Mãn Thanh trong trận Ngọc Hồi – Đống Đa lịch sử.

– Từ năm 1787, khi cai quản luôn toàn bộ đất đai Bắc Hà, Nguyễn Huệ đã có ý định xây dựng kinh đô ở Nghệ An, gọi đó là Phượng Hoàng Tnmg Đô.

– Mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792), thọ 39 tuổi.

Nguyễn Nhạc (? – 1793)

– Nguyễn Nhạc là tên thật. Ngoài ra, ông còn có hai tên gọi khác, là ông Hai Trầu. (vì có một thời ông làm nghề buôn trầu) và ông Biện Nhạc (vì có một thời ông làm biện lại là chức dịch của một sở tuần ti, tương tự như nhân viên thu thuế).

– Con trưởng của ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng.

– Nguyễn Nhạc sinh năm nào không rõ, chỉ biết ông lớn hơn em là Nguyễn Huệ khoảng mười tuổi. Có người phỏng đoán ông sinh năm 1743.

– Năm 1771, ông là người khởi xướng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

– Năm 1773, ông xưng là Tây Sơn Đệ Nhất trại chủ.

– Tháng 3 năm 1776, xưng là Tây Sơn Vương, đóng đô ở thành Đồ Bàn (ngày nay thuộc tỉnh Binh Đinh).

– Năm 1778, lên ngôi hoàng đế, dặt niên hiệu là Thái Đức, từ đó, đổi gọi thành Đồ Bàn là thành Hoàng Đế, phong Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân.

– Tháng 7 năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Nhạc chia vùng đất phía Nam ra làm ba: từ đèo Hải Vân trở ra Bắc thuộc về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, đất Gia Định thuộc về Đông Định Vương Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc đóng đô ở Quy Nhơn xưng là Trung ương Hoàng đế.

– Mất năm 1793 vì bệnh, làm vua được 15 năm.

Nguồn gốc chung của anh em Tây Sơn

Năm 1655, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong cuộc Trịnh – Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn đã chủ dộng cho quân vượt biên giới sông Gianh, tấn công vào lãnh địa của chúa Trịnh. Quân Nguyễn đã chiếm được  một vùng đất rộng lớn, gồm từ Nghệ An trở vào Nam, nhưng sau gần 5 năm, xét thấy không thể giữ được, chúa Nguyễn lại cho rút quân về. Cùng với cuộc rút lui này, chúa Nguyễn đã cưỡng ép rất nhiều dân cư Đàng Ngoài di cư vào Đàng Trong. Tổ tiên của anh em Tây Sơn vốn người họ Hồ ở Hưng Nguyên (Nghệ An) là một trong những nạn nhân của cuộc cưỡng ép di cư. Nay ở xã Hưng Thái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, vẫn còn một khu đất bằng phẳng, tương truyền đó chính là khu mộ tổ của anh em Tây Sơn.

Vào Nam, tổ tiên của anh em Tây Sơn bị đưa về khu vực phía trên đèo An Khê và đổi thành họ Nguyễn. Sau một thời gian khai hoang, họ đã góp phần tạo ra ấp Tây Sơn, gồm có ấp Nhất, và ấp Nhì (hai đều thuộc huyện An Khê).

Vào khoảng giữa thế kỉ XVIII, một người của họ Hồ là Hồ Phi Phúc (Nguyễn Phi Phúc) đã di cư về quê vợ của ông là bà Nguyễn Thị Đồng tại thôn Phú Lạc, ấp Kiên Thành (nay thuộc xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Khu Gò Lăng ở xã này, tương truyền, chính là nền nhà cũ của Hồ Phi Phúc. Sau một thời gian cư ngụ tại quê vợ, Hồ Phi Phúc lại chuyển đến ở thôn Kiên Mĩ (một địa điểm cách thôn Phú Lạc không xa).

Từ lúc phải rời đất tổ là Nghệ An để vào Nam cho đến khi ba anh em Tây Sơn chào đời, họ Hồ đã trải bốn thế hệ khác nhau. Họ đã sống ở bốn địa điểm khác nhau là Hưng Nguyên, Tây Sơn, Phú Lạc và Kiên Mĩ. Anh em Tây Sơn có nguồn gốc nông dân, nhưng là nông dân khá giả và có được học hành cả văn chương lẫn võ nghệ. Anh em Tây Sơn được theo học giáo Hiến, vốn là môn khách của Trương Văn Hạnh, ngoại hữu dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Thuần.

Năm Tân Mão (1771), anh em Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa với khẩu hiệu “Lật đổ quyền thần Trương Phúc Loan, phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương”. Sau 8 năm chiến đấu gian khổ, năm Mậu Tuất (1778), quân Tây Sơn đã diệt được chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777)

– Con thứ 16 của Nguyễn Phúc Khoát. thân mẫu người họ Nguyễn (húy là Nguyễn Phúc Ngọc Cầu), sau đi tu, được truy tôn là Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư.

– Sinh ngày 18 tháng 11 năm Giáp Tuất (1754). Võ Vương lúc đầu lập người con thứ 9 là Phúc Hiệu làm Thái tử nhưng Hiệu mất sớm, con trai Hiệu là Hoàng tôn Phúc Dương còn thơ ấu mà hoàng tử cả là Chương cũng đã mất. Hoàng tử thứ hai là Phúc Luân cũng rất khôi ngô, tuấn tú nên Võ Vương đã trao Lauan cho Trương Văn Hạnh dạy bảo. Khi Võ Vương mất, quyền thần Trương Phúc Loan không muốn lập Luân vì Luân đã lớn tuổi, khó bề lộng hành nên chọn Nguyễn Phúc Thuần, mới 12 tuổi lên làm vua.

– Nối nghiệp chúa từ tháng 5 năm Ất Dậu (1765). Quyền hành đều nằm trong tay Trương Phúc Loan, Loan tự phong làm Quốc phó, thâu tóm toàn bộ từ chính sự đến kinh tế. Khi đó nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu được nhân dân ủng hộ. Thêm vào đó tháng 5 năm Giáp Ngọ (1774) chúa Trịnh cho đại quân đánh vào, cả nghĩa quân và quân Trịnh đều nêu khẩu hiệu “Trừ quyền thần Trương Phúc Loan và tôn phó Hoàng tôn Dương”. Trước tình cảnh đó tôn thất nhà Nguyễn bắt nộp Trương Phúc Loan cho quân Trịnh. Tháng 12 năm 1774, quân Trịnh chiếm được Phú Xuân và đặt quan lại cai trị Thuận Hóa. Đại quân Tây Sơn sau khi hòa hoãn với quân Trịnh đã cho đánh vào Gia Định, chúa chạy về Định Tường rồi chạy sang Long Xuyên. Tháng 9 năm Đinh Dậu (1777), quân Tây Sơn chiếm Long Xuyên, chúa chết trận.

– Vua ở ngôi chúa 12 năm, mất vào tháng 9 năm Đinh Dậu (1777), thọ 24 tuổi. Dân thường gọi là Định Vương. Sau được truy tôn là Duệ Tông Hiếu Định Hoàng Đế. Định Vương Nguyễn Phúc Thuần chết, kết thúc giai đoạn lịch sử 9 chúa của Đàng Trong.

Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765)

– Con trưởng của Nguyễn Phúc Thụ, thân mẫu người họ Trương, sau được truy tôn là Hiếu Ninh Hoàng hậu.

– Sinh ngày 18 tháng 8 năm Giáp Ngọ (1714).

– Nối nghiệp chúa từ tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, chức Thái bảo. tước Hiếu Quận công, dân thường gọi là Võ Vương. Võ Vương cho đúc ấn Quốc vương, xuống chiếu bố cáo thiên hạ và chọn Phú Xuân làm kinh đô.

– Ở ngôi chúa 27 năm, mất ngày 20 tháng 5 năm Ất Dậu (1765), thọ 51 tuổi. Võ Vương có 18 người con trai và 12 người con gái. Sau được truy tôn là Thế Tông Hiếu Võ Hoàng Đế.

– Trong thời gian ở ngôi chúa, Nguyễn Phúc Khoát đã giúp Nặc Tôn lên ngôi vua Chân Lạp. Đáp lại, Nặc Tôn đã cắt dâng miền đất nằm giữa Hà Tiên với miền đông Nam Bộ ngày nay cho chúa Nguyễn Phúc Khoát. Ngoài ra, Nặc Tôn còn cắt tặng riêng cho Mạc Thiên Tứ (con Mạc Cửu, người chỉ huy quân của chúa Nguyễn giúp Nặc Tôn) 5 châu nữa. Cả năm châu đó, triều Nguyễn đã trả lại cho Chân Lạp vào năm đầu đời Tự Đức (1848).

Nguyễn Phúc Thụ (1725 – 1738)

– Con trưởng của Nguyễn Phúc Chu, thân mẫu người họ Tống, sau được truy tôn là Hiếu Minh Hoàng hậu.

– Sinh vào tháng 12 năm Bính Tí (1696).

– Nối nghiệp chúa từ tháng 4 năm Ất Tị (1725) xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, chức Thái phó, tước Đỉnh Quốc Công, dân thường gọi là Ninh Vương.

– Ở ngôi chúa 13 năm, mất ngày 20 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738) thọ 42 tuổi. Ninh Vương có 3 người con trai và 6 người gái. Sau được truy tôn là Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng Đế.

Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725)

– Con trưởng của Nguyễn Phúc Thái, thân mẫu người họ Tống, sau được truy tôn là Hiếu Nghĩa Hoàng hậu.

– Sinh ngày 18 tháng 5 năm Ất Mão (1675).

– Nối nghiệp chúa từ tháng 1 năm Tân Mùi (1691), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, chức Thái bảo, tước Tộ Quận công, dân thường gọi là Quốc chúa.

– Ở ngôi chúa 34 năm, mất ngày 21 tháng 4 năm Ất Tị (1725) thọ 50 tuổi. Chúa có 38 người con trai  và 4 người con gái. Sau được truy tôn là Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế.

– Trong thời gian ở ngôi chúa, Nguyễn Phúc Chu có ba lần mở rộng lãnh thổ.

– Lần thứ nhất: lấy hết phần đất còn lại của Chiêm Thành (năm Quý Dậu, 1693), biên giới cực nam của xứ Đàng Trong, từ đó kéo dài đến Bình Thuận ngày nay.

– Lần thứ hai: lấy một phần đất Chân Lạp tiếp giáp với xứ Đàng Trong, tương ứng với miền đông Nam Bộ ngày nay (năm Mậu Dần, 1698).

– Lần thứ ba: nhận đất xứ Hà Tiên do Mạc Cửu dâng. Đất này tương ứng với toàn bộ tỉnh Kiên Giang, tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và một phần nhỏ của tỉnh An Giang và tỉnh Sóc Trăng ngày nay (năm Giáp Ngọ, 1714).

Nguyễn Phúc Thái (1687 – 1691)

– Con thứ hai của Nguyễn Phúc Tần, thân mẫu người họ Tống, sau được truy tôn là Hiếu Triết Hoàng hậu.

– Sinh ngày 21 tháng Chạp năm Kỉ Sửu (1649).

– Nối nghiệp chúa từ tháng 3 năm Đinh Mão (1687), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, chức Thái phó, tước Hoàng Quốc Công, dân thường gọi là chúa Nghĩa.

– Tháng 7 năm Đinh Mão (1687), Chúa cho dời phủ từ Kim Long về Phú Xuân, lấy Bằng Sơn (nay là núi Ngự Bình) làm bình phong, xây đắp cung điện, thành quách tráng lệ, đã trở thành cố đô Huế ngày nay.

– Ở ngôi chúa 4 năm, mất ngày 10 tháng Giêng năm Tân Mùi (1691), thọ 42 tuổi. Chúa có 5 người con trai và 4 người con gái. Sau được truy tôn là Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng đế.

Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687)

– Con thứ hai của Nguyễn Phúc Lan, thân mẫu người họ Đoàn, sau được truy tôn là Hiếu Chiêu hoàng hậu.

– Sinh ngày 19 tháng 6 năm Canh Thân (1620). Lúc đầu được phong Phó tướng, Dũng Lễ Hầu, từng đánh giặc ở cửa biển, được chúa Thượng khen ngợi.

– Nối nghiệp cha từ tháng 2 năm Mậu Tí (1648), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, chức Thái Bảo, tước Dũng Quốc Công, dân thường gọi là chúa Hiền.

– Ở ngôi chúa 39 năm, mất ngày 19 tháng 3 năm Đinh Mão (1687), thọ 67 tuổi. Chúa có 6 người con trai và 3 người con gái. Sau được truy tôn là Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế.

Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648)

– Con thứ hai của Nguyễn Phúc Nguyên, thâu mẫu người họ Nguyễn, sau được truy tôn là Hiếu Văn Hoàng hậu.

– Sinh ngày 16 tháng 7 năm Tân Sửu (1601).

– Nối nghiệp chúa từ tháng 10 năm Ất Hợi (1635), dân thường gọi là chúa Thượng. Nghe tin Phúc Lan kế vị, hoàng tử thứ ba là Phúc Anh, trấn giữ Quảng Nam âm mưu phản nghịch, liên kết với chúa Trịnh đem quân đánh vào Nam. Phúc Lan đánh bắt được dù không nỡ giết đi nhưng tướng sĩ là người chú là Trường Quận công Nguyễn Phúc Khê đều xin giết để trừ hậu hoa, chúa đành nghe theo.

– Năm Kỷ Mão (1639), Tống Thị (vợ góa của Phúc Kỳ) dâng Chúa chuỗi hoa vòng ngọc liên châu tỏa ra mùi thơm, lại thêm nhan sắc xinh đẹp nên Chúa đem lòng yêu, hết mực sủng ái mặc cho triều thần can gián.

– Chúa ở ngôi chúa 13 năm, mất ngày 26 tháng 2 năm Mậu Tí (1648), thọ 47 tuổi. Chúa có 3 người con trai và 1 người con gái. Sau được truy tôn là Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng đế.

Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635)

– Con thứ 6 của Nguyễn Hoàng, (bốn người con đầu của Nguyễn  Hoàng đều mất sớm, người con thứ 5 thì phải làm con tin ở Đàng Ngoài). Thân mẫu người họ Nguyễn. sau được truy tôn là Gia Dụ Hoàng hậu.

– Sinh ngày 28 tháng 7 năm Quý Hợi (1563).

– Năm Nhâm Dần (1602) được làm trấn thủ Quảng Nam.

– Nối nghiệp chúa từ tháng 6 năm Quý Sửu (1613), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, chức Thái bảo, tước Thuỵ Quân Công. Phúc Nguyên xưng là Sãi Vương, rời cung phủ về xã Phúc Yên, huyện Quảng Điền ngày đêm lo việc chính sự, thu dụng nhân tài.

– Ở ngôi chúa 22 năm, dân thường gọi là chúa Phật hay chúa Sãi, mất ngày 10 tháng 10 năm Ất Hợi (1635), thọ 72 tuổi. Chúa có 15 người con (11 con trai và 4 con gái). Sau được truy tôn là Hy Tông Hiếu Văn Hoàng đế.

Nguyễn Hoàng (1558 – 1613)

– Con thứ hai của Nguyễn Kim (người có công dựng ra Nam triều, sau được truy tôn là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế). Thân mẫu người họ Nguyễn (con gái của quan Đặc Tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân, thự vệ sự triều Lê), sau được truy tôn là Tĩnh Hoàng hậu.

– Sinh vào ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (1525).

– Nguyễn Kim tên húy là Cam, quê ở Gia Miêu, Tống Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa, là con của Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lựu đã từng giúp vua Lê Tương Dực khởi binh ở Thanh Hóa lật đổ Lê Uy Mục, được phong Thái phó Trừng Quốc công. Khi Nguyễn Kim sang Ai Lao, Nguyễn Hoàng chỉ mới được 2 tuổi, được Thái phó Nguyễn Ư Dĩ là cậu ruột nuôi dưỡng. Sau khi Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm muốn thâu tóm quyền bính nên đã sát hại con trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông, Hoàng thấy thế rất lo sợ, đã sai người đến yết kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng đã ứng khẩu câu thơ “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Nguyễn Hoàng thấy thế bèn nois với chị gái Ngọc Bảo – Vợ Trịnh Kiểm, xin Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa, là nơi hoang vu, nhiều giặc dã. Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), Kiểm tâu vua Lê Anh Tông cho Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa và đến tháng 11 năm Canh Ngọ (1570) thì kiêm quản cả xứ Quảng Nam (thay cho Nguyễn Bá Quýnh).

– Tháng 5 năm Quý Tị (1593) được phong làm Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự, Thái uý, Đoan Quốc Công nhờ có công đem quân ra Đông Đô giúp Trịnh Tùng đánh dẹp dư đảng của nhà Mạc.

– Để tránh sự hãm hại của Trịnh Tùng, Chúa lấy cớ đem quân đi dẹp loạn ở Nam Định đã về thẳng đất Thuận – Quảng, để con trai thứ 5 là Hải và cháu là Hắc ở lại làm con tin.

– Tháng 10 năm Canh Tý (1600), Hoàng đem con gái là Ngọc Tú gả cho Trịnh Tráng (con cả của Trịnh Tùng)

– Ở ngôi chúa 55 năm, dân thường gọi là chúa Tiên, mất vào ngày 03 tháng 6 năm Quý Sửu (1613), thọ 88 tuổi. Sau được truy tôn làm Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế. Trong thời gian ở ngôi, Nguyễn Hoàng đã cho quân đánh Chiêm Thành, mở rộng biên cương đến khu vực tỉnh Phú Yên ngày nay. Trận đánh này xảy ra năm Tân Hợi (1611).

Án Đô Vương Trịnh Bồng (1786)

– Là con của Trịnh Giang, bác ruột của Trịnh Khải, trước đó được phong làm Côn Quận công

– Sau khi Trịnh Khải đã tự tử, quân Tây Sơn rút về Nam Hà, Trịnh Bồng yết kiến vua Lê và được lập làm chúa, phong là Nguyên soái, Yến Đô Vương.

– Tháng 11 năm Bính Ngọ (1786), bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh đuổi. Năm 1788, sau nhiều lần thất bại, đã bỏ đi tu ở vùng Lạng Sơn, Cao Bằng.

Đoan Nam Vương Trịnh Khải (1782 – 1786)

– Con trưởng của Trịnh Sâm, sinh năm Quý Mùi (1768), mẹ người họ Dương.

– Tháng 9 năm Canh Tí (1780) bị Trịnh Sâm truất bỏ ngôi con trưởng rồi sau đó còn bị bắt giam.

– Tháng 10 năm Nhâm Dần (1782), phế bỏ em là Trịnh Cán và tự lập làm chúa.

– Tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), khi Tây Sơn tấn công ra Bắc Hà, Trịnh Khải bỏ kinh thành Thăng Long chạy trốn, nhưng lại bị người học trò của Lý Trần Quán là Nguyễn Trang bắt nạp cho Tây Sơn. Dọc đường bị áp giải, Trịnh Khải tự tử thọ 26 tuổi, ở ngôi chúa chưa được 4 năm.

Điện Đô Vương Trịnh Cán (1782)

– Con thứ của Trịnh Sâm, mẹ là Đặng Thị Huệ.

– Tháng 10 năm Tân Sửu (1781) được Trịnh Sâm lập làm Thế tử.

– Tháng 9 năm Nhâm Dần (1782) lên nối nghiệp chúa khi mới 6 tuổi. Tuyên phi Đặng Thị nghiễm nhiên trở thành điều hành triều chính thay chúa.

– Tháng 10 năm Nhâm Dần bị anh là Trịnh Khải hợp mưu với kiêu binh truất phế, giáng làm Cung Quốc công, Đặng Thị bị truất thành thứ dân sau tự tử chết.

– Chết vì bệnh vào cuối năm Nhâm Dần (1782).

Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767 – 1782)

– Con trưởng của Trịnh Doanh.

– Năm Ất Sửu (1745), được lập làm Thế tử, cử hai tiến sĩ là Dương Công Chú và Nguyễn Hoàn làm tư giảng cho Trịnh Sâm.

– Tháng 10 năm Mậu Dần (1758) được Trịnh Doanh phong làm Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, chức Thái uý, tước là Tĩnh Quốc Công.

– Nối nghiệp chúa từ tháng 1 năm Đinh Hợi (1767), xưng là Nguyên soái, Tổng quốc chính, Tĩnh Đô Vương.

– Tháng 8 năm Kỉ Sửu (1769), tự phong làm Thượng sư Tĩnh Vương.

– Tháng 10 năm Canh Dần (1770), tự phong làm Đại nguyên soái tổng quốc chính, Thượng sư Thượng phụ, Duệ đoan văn công vũ đức Tĩnh Vương.

– Năm Giáp Ngọ (1774), Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc làm Thống tướng đem quân vào Nam đánh chúa Nguyễn, tháng 10 năm đó, Sâm cầm quân kéo vào Thuận Hóa, chiếm được Thuận Hóa và đặt quan cai trị đất Thuận Quảng.

– Đặng Thị Huệ là nữ tỳ của Tiệp dư Trần Thị Vinh, vẻ người xinh đẹp, Trịnh Sâm đem lòng yêu mến nên sống với chúa như vợ chồng. Chúa còn gả con gái cho em trai của Đặng Thị là Đặng Mậu Lân, một tên du đãng ỷ thế chuyên cướp bóc, cưỡng bức dân lành. Đặng Thị còn liên kết với Huy Quận công Hoàng Đình Bảo gạt bỏ Thế tử Tịnh Khải (con trưởng của Trịnh Sâm) để lập Trịnh Cán (con của Đặng Thị) làm Thế tử khi mới 5 tuôi.

– Mất vào tháng 9 năm Nhâm Dần (1782), thọ 44 tuổi, ở ngôi chúa 15 năm.

Minh Đô Vương Trịnh Doanh (1740 – 1767)

– Con thứ của Trịnh Cương, em Trịnh Giang.

– Đầu năm Bính Thìn (1736), được Trịnh Giang phong làm Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, chức Thái uý, tước Ân Quốc Công.

– Tháng 1 năm Canh Thân (1740), được nối ngôi chúa. tự phong làm Nguyên soái, Tổng quốc chính, Minh Đô Vương.

– Tháng 3 năm Nhâm Tuất (1742), tự phong Đại nguyên soái, Tổng quốc chính, Thượng sư, Minh Vương.

– Trịnh Doanh ban hành nhiều quyết định hợp lòng người, được quần thần và dân chúng ủng hộ. Chính sách cai trị khá chắc chắn và hoàn hảo. Trịnh Doanh chăm lo chính sự, coi trọng thực tài, thưởng phạt công minh.

– Mất vào tháng 1 năm Đinh Hợi (1767), thọ 48 tuổi, ở ngôi chúa 27 năm.

Uy Nam Vương Trịnh Giang (1729 – 1740)

– Con cả của Trịnh Cương. Cũng có sách gọi Trịnh Giang là Trịnh Khương.

– Tháng 5 năm Canh Tí (1720) được lập làm thế tử.

– Nối nghiệp chúa kể từ tháng 10 năm Kỉ Dậu (1729).

– Tháng 4 năm Canh Tuất (1739), tự phong là Nguyên soái, Thống quốc chính, Uy Nam Vương.

– Tháng 8 năm Nhâm Tí (1732), tự phong làm Đại nguyên soái, Thượng sư, Uy Vương.

– Tháng 9 năm Kỉ Mùi (1739) xưng là An Nam Thượng Vương.

– Chúa Trịnh Giang là kẻ vô cùng bạo ngược, sát hại công thần, giết vua Duy Phường, lập vua Ý Tông, lấn át quyền hành của Vua. Bọn hoạn quan lũng đoạn triều chính. Các quan đại thần lần lượt bị giết hại, thuế khóa nặng nề, dẫn đến các cuộc khởi nghĩa của nhân dân nổi ra ở khắp nơi.

– Tháng 1 năm Canh Thân (1740), nhường ngôi cho em để làm Thái Thượng vương.

– Mất vào tháng 12 năm Tân Tị (1761).

An Đô Vương Trịnh Cương (1709 – 1729)

– Con của Trịnh Bính.

– Tháng 1 năm Quý Mùi (1703) được phong làm Tiết chế, An Quốc Công.

– Tháng 5 năm Kỉ Sửu (1709) lên nối nghiệp chúa, tự xưng là Nguyên soái Tổng quốc chính, An Đô Vương.

– Tháng 9 năm Giáp Ngọ (1714), tự phong là Đại nguyên soái, Tổng quốc chính, Thượng sư, An Đô Vương.

– Mất vào tháng 10 năm Kỉ Dậu (1729), thọ 44 tuổi, ở ngôi chúa được 20 năm.

Trịnh Bính (1688)

– Con trưởng của Trịnh Vĩnh, cháu đích tôn của Trịnh Căn. Trịnh Vĩnh mất sớm nên Trịnh Căn đã có ý lập Trịnh Bách.

– Tháng 2 năm Mậu Thìn (1688), vì chú là Trịnh Bách đã mất nên được Trịnh Căn phong làm Tiết chế thuỷ bộ chư dinh chức Thái uý, tước Tấn Quốc công. Đó là chức tước của người chuẩn bị nối ngôi chúa, nhưng chưa kịp chính thức nối ngôi thì Trịnh Bính mất.

Trịnh Bách (1684)

– Con thứ của Trịnh Căn (con trưởng của Trịnh Căn mất sớm).

– Tháng 10 năm Giáp Tí (1684), được phong làm Tiết chế thuỷ bộ chư dính, chức Thái uý, tước Kiêm Quốc công. Chức ấy và tước ấy có nghĩa là từ năm 1684, Trịnh Bách bắt đầu làm những công việc của người ở ngôi chúa, dù chưa thực sự nối ngôi chúa.

Định Vương Trịnh Căn (1682 – 1709)

– Con trưởng của Trinh Tạc.

– Tháng 4 năm Quý Dậu (1657), được phong làm Thái bảo, Phú Quốc công.

– Tháng 9 năm Quý Dậu (1657), được phong làm Thái phó.

– Tháng 7 năm Giáp Dần (1674), được phong làm Nguyên soái, tước Định Nam Vương và tự xưng là Phó Vương.

– Nối ngôi chúa từ tháng 5 năm Nhâm Tuất (1682).

– Tháng 10 năm Giáp Tí (1684), tự phong là Đại nguyên soái, Tổng quốc chính, Thượng thánh phụ sư, Thịnh công nhân minh uy đức định vương, đồng thời phong cho con thứ là Trịnh Bách làm Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, chức Thái uý, tước Kiêm Quốc công. Đấy là chức dự bi nối ngôi chúa, nhưng Trịnh Bách mất sớm, chưa kịp nối ngôi chúa. Trịnh Căn lại phong cho Trịnh bính là hoàng tôn (con của Trịnh Vĩnh) nối ngôi nhưng đến năm Quý Mùi (1703), Trịnh Bính cũng qua đời. Trịnh Căn lại phong cho con cả của Trịnh Bính là Trịnh Cương lên làm Tiết chế An Quốc công.

– Mất vào tháng 5 năm Kỉ Sửu (1709), thọ 77 tuổi, ở ngôi chúa 27 năm.

Bắt đầu Blog tại WordPress.com.

Lên ↑

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu