[Hậu cung nhà Nguyễn] Cung quan bổng phân

Trước triều đại nhà Nguyễn, lịch sử Việt Nam không có ghi chép cụ thể và chi tiết chức vụ cũng như cấp bậc của các nữ quan, dù có ghi nhận một vài nữ quan ưu tú

Sang thời Nguyễn, cứ theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ mới có ghi chép cụ thể, cứ theo đó thì ta biết rằng hệ thống nữ quan và cung nữ được gọi là Lục thượng (六尚), tương đồng quy chế thời Đường. Người đứng đầu hệ thống này chính là các phi tần. Thời Thiệu Trị, Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Phạm thị, khi ấy còn là Quý phi, đã được giao trọng trách cai quản viện Thượng nghi, cũng như Nhiếp quản lục thượng. Thời Tự Đức, Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên cai quản Lục thượng. Sau vì việc quản lý của bà chưa được chu toàn, cung nhân tiến cơm trưa chậm làm trái ý vua nên bị giáng làm Trung phi, tước bỏ quyền cai quản Lục thượng.

Thời Đồng Khánh, Hoàng quý phi Nguyễn Hữu Thị Nhàn được ban kim bài chiều ngang khắc chữ “Đồng Khánh sắc tứ”, chiều dọc khắc chữ “Kiêm nhiếp lục viện”. Giai phi Phăn Văn thị cũng được phong làm Quyền nhiếp lục viện, cai quản lục viện cùng Hoàng quý phi. Còn Quán phi Trần Đăng thị, Chính tần Hồ Văn thị, Nghi tần Nguyễn Văn thị, Dự tần Trần Văn thị cũng được phân ra cai quản Lục thượng viện. Sau vì cư xử không đúng mực, Quán phi, Chính tần và Nghi tần bị giáng xuống làm Tùy tần, Mỹ nhân và Tài nhân cũng như mất quyền cai quản Lục thượng.

Lục thượng bao gồm Thượng nghi, Thượng thực (từ thời Triệu Trị đổi làm Thượng diên), Thượng trân, Thượng y, Thượng phục và Thượng khí. Các cấp bậc cai quản từ cao đến thấp là: Quản sự (管事), Thống sự (統事), Thừa sự (承事), Tùy sự (隨事), Tòng sự (從事) và Trưởng ban (長班). Trong đó, Hoàng quý phi thường giữ vị trí Quản sự, thâu tóm mọi việc, đây là hạ thống đã hoàn thiện dưới thời Thiệu Trị:

  • Thượng nghi (尚儀): giữ nghi lễ, giấy tờ trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng nghi (掌儀), Chưởng lễ (掌儀). Bậc thứ gọi là Tư hương (司香), Tư chương (司章), bậc trung gọi là Điển sự (典事).
  • Thượng diên (尚筵): giữ thức ăn, chè, trà, hoa quả trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng diên (掌筵), Chưởng yến (掌宴). Bậc thứ gọi là Tư trà (司茶), Tư thiện (司膳), bậc trung gọi là Điển soạn (典饌), Điển giai (典揩).
  • Thượng trân (尚珍): giữ trang sức, châu ngọc trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng châu (掌珠), Chưởng ngọc (掌玉). Bậc thứ gọi là Tư kim (司金), Tư ngân (司銀), bậc trung gọi là Điển mãn (典滿), Điển hoàn (典丸).
  • Thượng y (尚衣): giữ mũ, giày, áo, xiêm trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng bào (掌袍), Chưởng cừu (掌裘). Bậc thứ gọi là Tư y (司衣), Tư phi (司緋), bậc trung gọi là Điển nhu(典襦), Điển chẩn (典袗).
  • Thượng phục (尚服): giữ chăn, nệm, giường, màn trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng duy (掌維), Chưởng vi (掌韋). Bậc thứ gọi là Tư thường (司裳), Tư đới (司帶), bậc trung gọi là Điển khâm (典?), Điển nhục (典蓐).
  • Thượng thảng (尚帑): giữ đồ lạ, đồ chơi. Bậc đầu gọi là Chưởng trân (掌珍), Chưởng ngoạn (掌玩). Bậc thứ gọi là Tư thảng (司帑), Tư khí (司器), bậc trung gọi là Điển cẩm (典錦), Điển thái (典采).

Sáu bậc Nữ quan ở các Thượng; quản lý mọi việc là bậc đầu; thâu tóm mọi việc là bậc thứ; cuối cùng thừa hành mọi việc là bậc giữa.

Dưới quyền quản lý của Lục thượng là tám ban cung nữ, gồm có ban Thiều Quangban Thuỵ Nhậtban Kim Hoaban Hương Cẩmban Tường Loanban Nghi Phượngban Tiên Quếban Ngọc Mai. Đứng đầu mỗi ban là chức Trưởng ban, chức vị dưới Lục thượng Tòng sự. Ngoài ra, trong cung còn có các quan nô tỳ, được gọi là đội Thuận Cần, đứng đầu là Đầu mục Cung nô, ngang chức với Trưởng ban. Hàng nữ tỳ được chia ra làm 6 cấp bậc: Thủ đẳng (首等); Thứ đẳng (佽等); Trung đẳng (中等); Á đẳng (亞等); Hạ đẳng (下等) và Mạt đẳng (末等).

Từ chức tòng sự trở lên, các nữ quan khi được phong chức đều được ban cáo trục giấy rồng, đặt trong hòm gỗ sơn son, giao cho cung giám (hoạn quan nhà Nguyễn) trao cho nữ quan nhận lĩnh. Nữ quan đến gặp vua tạ ơn, làm lễ ba lần quỳ, sáu lần vái. Các trưởng ban và đầu mục thì do bộ Lễ tuyên sắc.

Về quan bổng:

* Quản sự bổng cả năm 528 quan, 
* Thống sự 384 quan, 
* Thừa sự 360 quan, 
* Tùy sự là Tôn nữ 336 quan, Tùy sự bình thường 276 quan
* Tòng sự là Tôn nữ 276 quan; Tòng sự bình thường 216 quan,
* Quản ban 276 quan,
* Lĩnh ban 216 quan,
* Trưởng ban 216 quan,
* Công nữ phụng trực 336 quan, Tôn thất nữ phụng trực 252 quan,
* Nhũ bảo 72 quan 12 phương gạo,
* Lão tì 60 quan, 12 phương gạo,
* Ni nhân 48 quan, 12 phương gạo,
* Quan nô đại đầu mục 48 quan 12 phương gạo, Tiểu đầu mục 43 quan 12 phương gạo,
* Nội thị khoá nữ 36 quan,
* Cung nghi 28 quan 8 tiền, 12 phương gạo,
* Ban nhân và Nô nữ 24 quan, 12 phương gạo,

Rất nhiều phụ nữ trong nội cung nhà Nguyễn. Theo những gì biểu hiện, Cung nữ và Nữ quan triều Nguyễn đa phần đều đã có gia đình, riêng Nữ quan đều là Công nữ hoặc Tôn Thất nữ được tuyển vào định kì để hầu hạ các bậc Tài nhân vị nhập giai trở lên. Lại có sự phân định rõ các cấp do Công nữ nắm, đãi ngộ khác Nữ quan bình thường, hẳn biểu hiện ra vị thế của các Công nữ khi nhập cung hầu cận.

Tầng thấp nhất là Ban nhân và Nô nữ, đều là những cung tỳ làm việc chân tay hạng nặng trong hoàng cung. Nhà Nguyễn chỉ định Thái giám duy nhất phục vụ cho Hoàng đế và Thái hậu, do đó những việc nặng đều rơi vào cung nữ. Dựa vào đãi ngộ, họ hẳn là những người thuộc tầng lớp nghèo trong xã hội.

Đỗ Anh Vũ

Đỗ Anh Vũ (1113 – 20 tháng 1, 1159), thường gọi Việt quốc Lý Thái úy (越國李太尉), là một vị đại thần rất có quyền thế trong thời đại nhà Lý. Ông phò tá Lý Thần Tông và làm phụ chính dưới triều Lý Anh Tông, khi vị Hoàng đế này lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi.

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, Đỗ Anh Vũ sinh năm 1113 ở Hồng Châu (nay thuộc Hải Dương). Theo văn bia trên bia mộ của Đỗ Anh Vũ tại làng Yên Lạc (tức Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), Đỗ Anh Vũ có biểu tự là Quán Thế (冠世), tổ tiên bên ngoại là họ Quách ở Lũng Tây, Trung Quốc. Cha của Đỗ Anh Vũ là Đỗ Tướng (杜相), gọi Thái úy Lý Thường Kiệt là cậu ruột. Đỗ Anh Vũ có một người chị (hoặc em) gái ruột tên là Quỳnh Anh, về sau được gả cho quan Thị trung họ Phạm; rất có thể đó chính là Chiêu Hiến Hoàng hậu Đỗ thị, chính thất của Sùng Hiền hầu và là mẹ của Hoàng đế Lý Thần Tông.

Ông có người anh họ làm Quan Thị trung, có hai người con gái đều được hầu Lý Anh Tông. Người chị không rõ tên, người em tên là Đỗ Thụy Châu, về sau sinh Hoàng tử Thiên Bảo (1154) và các hoàng tử, trong đó có Hoàng lục tử Lý Long Cán, về sau lên ngôi là Lý Cao Tông.

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đỗ Anh Vũ có ngoại hình đẹp đẽ, múa khéo, hát hay. Năm lên 8 tuổi, ông được tuyển làm Thượng lâm tử đệ trong cung. Năm 15 tuổi, ông được Thái sư Trương Bá Ngọc nhận làm con nuôi. Năm 16 tuổi, Lý Thần Tông cho ông vào nội cung, hầu trong màn trướng. Khi gặp Đỗ Anh Vũ, Cảm Thánh Phu nhân Lê thị, vợ của Lý Thần Tông đã phải lòng. Các việc chính sự ở trong cung cấm và việc xây dựng của thợ thuyền, Thần Tông đều ủy thác cho ông cả. Đến như các phép viết chữ, tính toán, bắn cung, cưỡi ngựa, thuốc men, kinh mạch, không nghề nào là Đỗ Anh Vũ không tinh thông; đến như việc bói toán, binh pháp, chơi bài, đánh cờ, không việc nào là ông không nghiên cứu. Có thể bảo là “người quân tử không phải một đồ vật” vậy.

Năm 1135, Thần Tông cử ông theo Thái phó Lý Công Bình đi đánh dẹp quân Chân Lạp ở phía Nam châu Nghệ An.

Năm 1136, ông được cử đi dẹp quân Sơn Liêu, vì cậy chỗ hiểm trở mà nhiều năm không cống nạp. Thần Tông sai ông cùng các tướng đem quân đi đánh, nhưng chỉ riêng Đỗ Anh Vũ là người chiến thắng liên tiếp, vì thế người người đều trổ hết sức mạnh để đánh giặc. Từ đó về sau, triều đình đều ủy thác cho ông cả.

Năm 1137, tháng 9, Thần Tông Hoàng đế băng hà. Trước đó, Hoàng đế rửa mặt xong, ngồi tựa vào ghế mà dặn Đỗ Anh Vũ rằng: “Chỉ có khanh là người có thể gởi gắm họ Lý được thôi”. Sau khi Thần Tông băng, Đỗ Anh Vũ cùng Linh Chiếu Hoàng thái hậu rước Anh Tông từ Thượng Thanh để trở về cung lên ngôi. Đỗ Anh Vũ chấn chỉnh triều cương, trăm quan khép mình mà nghe lệnh; sửa sang chính trị. Hoàng thái hậu thấy Thái úy có nhiều công lao, có lòng trung tiết, bèn thăng chức Đỗ Anh Vũ lên chức Kiểm hiệu Thái phó.

Năm 1138, Đỗ Anh Vũ được phong làm Phụ quốc Thái úy và được ban quốc tính. Vì vậy có tài liệu chép tên ông là Lý Anh Vũ. Cùng trong năm đó Thân Lợi tự xưng là con của Lý Nhân Tông, chiếm cứ châu Thượng Nguyên để làm phản, thủ hạ đông hơn 1000 người. Quan Gián nghị Đại phu Lưu Vũ Xứng được lệnh đi dẹp nhưng bị Thân Lợi đánh bại. Thân Lợi kéo binh ra chiếm cứ châu Tây Nùng, đánh phá phủ Phú Lương, sắp tiến về kinh thành Thăng Long. Thái úy là Đỗ Anh Vũ được lệnh đi đánh. Ông đem quân đến Quảng Dịch thì đụng độ với quân Thân Lợi. Hai bên đánh nhau dữ dội. Quân Thân Lợi thua to, bị chết rất nhiều. Thân Lợi phải chạy trốn ở châu Long LệnhĐỗ Anh Vũ tiến đánh châu Long Lệnh, phá hủy châu, bắt được hơn 2000 người. Thân Lợi chạy trốn đến Lạng Châu, bị Tô Hiến Thành bắt được đưa về kinh sư xử chém.

Đại Việt sử lược chép vụ việc xảy ra năm 1139, Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi vụ việc năm 1141.

Do vua Anh Tông còn nhỏ, Đỗ Anh Vũ được ủy thác quyết đoán mọi việc trong triều. Năm 1140, ông được thăng chức Cung điện lệnh chi nội ngoại sư. Ông cầm quyền lớn và tỏ ý kiêu ngạo trước triều đình, nhiều người bị chèn ép không dám nói. Ông lại vào cung tư thông với Linh Chiếu Thái hậuTrong triều nhiều người bất bình. Trí Minh vương cùng Phò mã Dương Tự Minh, Điện tiền Chỉ huy sứ Vũ Đái đốc xuất quân sĩ kéo đến ngoài cửa Việt Thành kể tội ông chuyên quyền và tư thông với thái hậu rồi xông vào bắt Anh Vũ giam lại ở hiên Cụ Thánh. Lê Thái hậu sai người đưa cơm rượu vào cho Đỗ Anh Vũ và ngầm để vàng trong cơm để ông hối lộ Vũ Đái. Viên Hỏa đầu ở đô Cụ Thánh là Nguyễn Dương khuyên phe Vũ Đái không nên nhận vàng mà nên giết luôn Đỗ Anh Vũ trừ hậu họa nhưng Vũ Đái không nghe. Dương bèn đi tự vẫn. Vua Anh Tông không giết Đỗ Anh Vũ nhưng xử tội đồ làm điền hoành, tức là tá điền phải đi cày ruộng công của triều đìnhLê Thái hậu nghĩ cách giúp Anh Vũ được trở lại như cũ, nên thường mở hội to, tha tội nhân, mong Anh Vũ cũng được dự ân xá. Anh Vũ vì nhiều lần được ân xá được khỏi tội. Lê Thái hậu khuyên vua Anh Tông phục chức cho ông. Anh Tông bằng lòng phục chức phụ chính cho Đỗ Anh Vũ, ông được trọng dụng trở lại. Để báo thù, ông tự lập ra đội quân hơn 100 người gọi là Phụng vệ đô, nếu có người phạm tội nào thì giao hết cho Phụng vệ đô bắt giữ. Sau đó ông bí mật tâu với vua Anh Tông ra lệnh cho Phụng Vệ đô bắt những người cùng phe Vũ Đái giao xuống hàng quan lại ở dưới làm án trừng trị. Anh Tông nghe theo, hạ chiếu giáng Trí Minh Vương làm tước hầu, các Hỏa đầu gồm 8 người bị đem chém ở chợ Tây, Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đái 20 người thì đem chém ở Giang Đầu, Phò mã Dương Tự Minh 30 người bị đày lên vùng nước độc. Số còn lại đều bị giáng chức làm khao giáp và điền hoànhThời điểm xảy ra vụ việc này được sử sách ghi chép không thống nhất. Đại Việt sử lược chép sự việc này năm 1148, còn Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép năm 1150.

Theo nghiên cứu của các nhà sử học Hàn Quốc và Việt Nam, khi vua Lý Thần Tông qua đời, thái tử Lý Thiên Tộ mới 3 tuổi, triều thần muốn tôn Kiến Hải vương Lý Dương Côn – một người con nuôi khác của Lý Nhân Tông, vốn là con đẻ của Thành Quảng hầu – lên nối ngôi. Nhưng lúc đó Lê hậu mẹ Thái tử Thiên Tộ dựa vào Đỗ Anh Vũ giúp đỡ. Anh Vũ nắm binh quyền, đã loại hết các địch thủ của Thái tử Thiên Tộ, nên Thiên Tộ được đưa lên ngôi vua (là Lý Anh Tông). Nhờ công Đỗ Anh Vũ mà họ Lý có người hoàng tộc nối dõi. Cũng vì phò tá cho Thái tử nhỏ tuổi lên ngôi mà ông buộc phải đắc tội với không it quan lại, trong đó có Vũ Đái, Trí Minh vương.

Năm 1150, cùng thời điểm Vũ Đái bị thanh trừng và Trí Minh vương bị giáng tước hầu, Kiến Hải vương Lý Dương Côn đang là Đô đốc thủy quân, bèn đem gia tộc xuống chiến thuyền chạy sang Cao Ly, định cư ở vùng Tinh Thiện (Cao Ly) và làm quan ở nước Cao Ly, trở thành tổ họ Lý Tinh Thiện tiếp tục phục vụ nước này trong nhiều thế hệ sau đóXét công của Đỗ Anh Vũ với nhà Lý có thể thấy trong bối cảnh loạn lạc, vua còn nhỏ tuổi, ông đã dám xả thân, chịu nhiều oan ức để đứng ra bảo vệ vương triều nhà Lý, giúp nhà Lý giữ thế cân bằng để tiếp tục truyền ngôi cho các thế hệ tiếp theo.

Tháng 5 năm 1158, Tả Ty là Nguyễn Quốc Dĩ đi sứ nhà Tống về, khuyên vua Anh Tông làm theo nhà Tống, đặt hòm bằng đồng ở triều đình dùng để thu lấy những văn thư kiến nghị của mọi người. Vua Anh Tông nghe theo. Chỉ trong 10 ngày văn thư đã đầy hòm, trong đó có thư nặc danh nói rằng Anh Vũ sắp làm phản. Anh Vũ nghe tin nổi giận, cho rằng do lỗi của Nguyễn Quốc Dĩ bày ra việc đặt hòm, nên gièm pha với vua Anh Tông xử tội Quốc Dĩ. Vua Anh Tông nghe theo, bèn sai bắt Nguyễn Quốc Dĩ và người em trai là Nguyễn Nghi giao xuống cho quan lại trị tội làm việc vu cáo. Kết quả Nguyễn Quốc Dĩ bị lưu đày ở trại Qui Hóa (Thanh Hóa). Chưa được bao lâu thì vua Anh Tông muốn gọi Quốc Dĩ về. Đỗ Anh Vũ bèn sai người đem rượu độc đến cho Quốc Dĩ và nói rằng:

Uống thuốc này thì có thể tiêu trừ được chướng khí.

Nguyễn Quốc Dĩ biết không thể thoát, bèn uống rượu độc mà chết.

Đỗ Anh Vũ qua đời ngày 20 tháng 1 năm Kỷ Mão, tức năm 1159. Ông làm phụ chính triều Lý trong 22 năm, hưởng thọ 46 tuổi.

Ông được triều đình truy phong “Suy trung Hiệp mưu Bảo tiết Thủ chính Tả Lý Dực đái công thần; Thủ Thượng thư lệnh, Khai phủ nghị đồng tam ti; Nhập nội Nội thị tỉnh đô đô trị, Kiểm hiệu Thái úy, kiêm Ngự sử đại phu, Dao thụ chư trấn Tiết độ sứ, Đồng trung thư, Minh chính Bình chương sự, Thượng trụ quốc, Thiên tứ tính. Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Nguyên soái Đại Đô thống”. Đám tang do đích thân Tô Hiến Thành làm chủ lễ.

Tại quê hương, ông được thờ như Thành hoàng, và thường được gọi là Đức Thánh Lác.

Văn bia của ông hiện vẫn đang lưu giữ tại Đền thờ An Lạc, xã Đồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Văn bia mô tả công đức của ông đối với triều đình nhà Lý. Trên tấm bia có ghi rõ ông là một người khẳng khái, cả đời trong sạch liêm chính, luôn tỏ rõ một lòng trung thành với vua Lý. Văn bia khắc vào thời Lê Trung hưng, văn tự khắc trên tấm bia bằng chữ Hán cổ, được soạn tỉ mỉ và tuân theo thể văn Gối hạc – Tứ tuyệt. Ngoài 2 tấm bia đá, một tấm còn nguyên vẹn, một tấm hiện bị vỡ thành 4 mảnh thì trong đền An Lạc thờ Đỗ Anh Vũ còn có bức hoành phi sơn son thếp vàng mô tả rõ việc an táng ông. Việc an táng được yêu cầu đào sâu chôn chặt và tuân theo quy luật Cửu Trù.

Lý Thường Kiệt

Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị thời nhà Lý, làm quan qua 3 triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075–1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy (1077). Ông đã làm tể tướng hai lần dưới thời Lý Nhân Tông và là một trong 3 người phụ chính khi vua còn nhỏ tuổi. 

Thông tin phổ biến hiện nay, dựa theo “Phả hệ họ Ngô Việt Nam”, nguyên danh của ông là Ngô Tuấn (吳俊), biểu tự Thường Kiệt (常傑), sau được ban quốc tính nên có tên là Lý Thường Kiệt. Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô Ích Vệ, còn có tên nữa là Ngô An Ngữ, cháu của sứ quân Ngô Xương Xí và chắt của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập – hoàng tử trưởng của Ngô Quyền, người phường Thái Hòa, thành Thăng Long.

Tuy vậy, theo bia “An Hoạch Báo Ân tự bi” (lập năm 1100) và bia “Cồ Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tính tự” (lập năm 1159) thì Lý Thường Kiệt vốn họ Quách, tên Tuấn, biểu tự Thường Kiệt, quê ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, huyện Gia Lâm ngày nay). Cha ông làm Thái úy đời Lý Thái Tông, có hai tên khác nhau, theo Đại Việt sử lược chép là Thái úy Quách Thạch Ích, còn An Nam chí lược thì chép là Thái úy Quách Thịnh Dật, quê ở huyện Câu Lậu, Tế Giang (nay thuộc huyện Mỹ Văn, Hưng Yên), được Hoàng đế ban quốc tính, vì vậy mới có tên là Lý Thường Kiệt. Theo văn bia của Thái úy đời Lý Anh Tông là Đỗ Anh Vũ, thì cha của Anh Vũ gọi Lý Thường Kiệt là cậu ruột. Sử sách Trung Quốc thường chép tên ông là Lý Thường Cát hoặc Lý Thượng Cát. Trong gia đình, ông có một người em tên Lý Thường Hiến (李常憲). Có lẽ cũng như anh, Thường Hiến là biểu tự chứ không phải tên thực; thông lệ từ xưa thì biểu tự có ý nghĩa tương đồng hoặc trái nghĩa với tên thực và dùng để gọi bên ngoài như một hiểu hiện của sự lịch sự, chỉ có trong nhà mới gọi tên thực.

Theo nhận xét của Đại Việt sử ký toàn thư, nhà của ông nối đời làm quan, trú ở phường Thái Hòa của thành Thăng Long. Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra là người có chí hướng và nghị lực, chăm học tập, rèn luyện cả văn lẫn võ, từng nghiên cứu về binh pháp.

Năm 1041, Lý Thường Kiệt còn ít tuổi, vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn Chi hậu – chức thái giám theo hầu Lý Thái Tông. Trong 12 năm làm nội thị trong triều, danh tiếng của Lý Thường Kiệt ngày càng nổi. Năm 1053, ông được thăng dần đến chức Nội thị sảnh Đô tri khi 35 tuổi.

Năm 1054, Thái tử Lý Nhật Tôn kế vị, sử gọi là Lý Thánh Tông. Thánh Tông phong ông chức Bổng hành quân Hiệu úy. Ông thường ngày ở cạnh vua, thường can gián. Vì có công lao, ông được thăng làm Kiểm hiệu Thái bảo.

Năm 1061, người Mường ở biên giới quấy rối. Lý Thánh Tông sai ông làm Kinh phỏng sứ vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An, được toàn quyền hành sự. Ông phủ dụ dân chúng, lấy được lòng người. Tất cả năm châu 6 huyện, 3 nguồn, 24 động đều quy phục.

Tháng hai năm 1069, ông theo vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt làm tiên phong đi đầu, truy bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Cuối cùng, Chế Củ phải chịu hàng, dâng 3 châu để được tha về nước.

Năm 1072 Lý Thánh Tông qua đời, Thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên ngôi, sử gọi là Lý Nhân Tông. Thái sư Lý Đạo Thành (李道成) tôn Hoàng hậu Dương thị làm Thượng Dương Hoàng thái hậu (上楊皇太后), buông rèm cùng nghe chính sự. Sinh mẫu của Nhân Tông là Thái phi Ỷ Lan không được dự vào việc triều đình, bèn dựa vào Lý Thường Kiệt để nắm lấy quyền nhiếp chính. Lý Thường Kiệt khi đó làm Thái úy, chức vụ ở dưới Lý Đạo Thành.

Tháng 6 năm 1072, tức là 4 tháng sau khi Nhân Tông lên ngôi, Nhân Tông ra chỉ phế truất Thượng Dương hoàng hậu, giam Thái hậu cùng 72 thị nữ trong lãnh cung và bắt chôn theo Thánh Tông. Có thể thấy, ngoài tác động của Ỷ Lan ở bên trong với Nhân Tông còn có vai trò của võ tướng Lý Thường Kiệt.

Sau đó, Lý Đạo Thành bị giáng chức làm Tả Gián nghị đại phu, ra trấn thủ Nghệ An. Ỷ Lan được tôn làm Hoàng thái hậu, buông rèm nhiếp chính, điều khiển chính sự. Theo ý kiến của Hoàng Xuân Hãn, việc xử chết Dương thái hậu và giáng chức Đạo Thành, một mình Ỷ Lan không thể thực hiện mà có vai trò của Lý Thường Kiệt, người nắm quân đội trong tay, trong khi Lý Đạo Thành vốn là quan văn và tuổi tác đã caoTừ đó Lý Thường Kiệt giữ vai trò phụ chính trong triều đình Đại Việt.

Năm 1082, ông thôi chức Tể tướng và được cử về trị nhậm trấn Thanh Hóa. Làm việc ở đây suốt 19 năm trời, đến năm 1101 thì vua Lý Nhân Tông lại mời ông trở lại về triều giữ lại chức Tể tướng. Lúc này ông đã 82 tuổi. Tuy tuổi tác đã cao, nhưng ông vẫn tình nguyện cầm quân đi đánh giặc Lý Giác ở Diễn Châu (năm 1103), dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở Bố Chính (năm 1104). Ông còn tổ chức lại quân đội, duyệt đổi lại các đơn vị từ cấm binh đến dân quân.

Tháng 6 năm Ất Dậu (1105), Thái úy Lý Thường Kiệt mất, thọ 86 tuổi. Lý Nhân Tông ban cho ông chức Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, cho người em là Lý Thường Hiến (李常憲) được kế phong tước hầu.

[Hậu cung phân vị] Phi

Phi (chữ Hán: 妃; Kana: ひ; Hangul: 비) là một xưng hiệu thuộc hoàng thất và vương thất.

Trong triều đình phong kiến đồng văn Đông Á, danh hiệu này một là chỉ đến phi tần trong hậu cung của Hoàng đế, dưới bậc Hoàng hậu; hoặc chỉ đến chính thất (vợ cả) hoặc trắc thất (vợ lẽ) của các tước Vương, bao gồm Quốc vương hay các Hoàng tử được thụ tước Thân vương. Theo dòng lịch sử phát triển, danh vị Phi có các biến thể như Thái tử phi, Vương phi, Hoàng quý phi hay Quý phi.

Trong lịch sử Việt Nam, các triều đình Việt Nam luôn mô phỏng chế độ Hán-Đường, ngoài hậu cung tần phi thì các thê thiếp của Vương hầu đều gọi là Vương phi, Chính phi và Trắc phi. Thời Lê sơ, hoàng thất quy định bậc Tam phi, gồm [Quý phi; 贵妃], [Minh phi; 明妃] và [Kính phi; 敬妃], địa vị chỉ dưới Hoàng hậu. Sang thời kì Lê trung hưng, ngoài hoàng thất thì phủ Chúa Trịnh tuy phụng thờ Lê Đế trên danh nghĩa nhưng vẫn có ý chuyên quyền khi đặt định chế độ cung tần trong phủ chúa không kém nhà Lê. Các bà vợ của Chúa Trịnh gọi là Chính phi hoặc Thứ phi. Sau khi qua đời, họ được ban chữ thụy mang nghĩa diễn tả như Hiền phiThục phi,…

Thời kỳ nhà Nguyễn, cấp bậc Phi là cấp bậc cao quý nhất của các phi tần hậu cung. Nhà Nguyễn đặt hai bậc Phi; gọi là [Nhất giai Phi; 一階妃] và [Nhị giai Phi; 二階妃]; trên tất thảy có Hoàng quý phi với địa vị tương tự Hoàng hậu. Mỗi hàng Phi có 3 người, tổng cộng 6 vị Phi được phân cao thấp ngay trong cùng 1 giai bởi phong hiệu, mà phong hiệu thay đổi tùy vào thời kỳ mà không cố định. Ví dụ quy định vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836), hàng Nhất giai Phi có: [Quý phi; 貴妃], [Hiền phi; 賢妃], [Thần phi; 宸妃], tuy cùng 1 giai nhưng Quý phi là đứng đầu, sau đó tới Hiền phi rồi Thần phi. Sang năm Tự Đức lại thay đổi, hàng Nhất giai Phi gồm: [Thuận phi; 順妃], [Thiện phi; 善妃], [Nhã phi; 雅妃]; lúc này Thuận phi đứng đầu, tới Thiện phi rồi Nhã phi. Rất nhiều chính thất của Hoàng đế nhà Nguyễn khi Hoàng đế lên ngôi chỉ phong làm Phi. Như Từ Dụ Hoàng thái hậu dù là nguyên phối, khi Thiệu Trị lên ngôi vẫn chỉ phong làm Thành phi, dần thành Quý phi.

Về tước hiệu Thái Phi, ở Việt Nam, tuy không có ghi chép nhiều nhưng cho thấy rõ quy tắc ở triều đình Việt Nam đều phỏng theo nhà Tống. Như Linh Nhân Hoàng thái hậu vốn chỉ là Hoàng thái phi, sau khi Thượng Dương Hoàng thái hậu mất thì mới được tôn làm Hoàng thái hậu. Sang thời nhà Trần, có Chiêu Từ Hoàng hậu, sinh mẫu của Trần Minh Tông, khi sinh thời là Hoàng thái phi, sau khi qua đời mới truy tôn làm Hoàng thái hậu. Thời nhà Nguyễn, sinh mẫu của Hiệp Hòa là Thụy tần Trương Thị Hận được kiến nghị tôn phong Hoàng thái phi, do Hiệp Hòa là con út của Thiệu Trị mà chính thê của Thiệu Trị là Nghi Thiên Chương Hoàng hậu vẫn còn sống và đang là Hoàng thái hậu. Hay như Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu, sinh mẫu của Khải Định, ban đầu cũng được tôn làm Hoàng thái phi, về sau mới tôn làm Hoàng thái hậu.

Chính sách Ngụ binh ư nông

Ngụ binh ư nông (chữ Hán: 寓兵於農), theo nghĩa tiếng Việt là “gửi binh ở nông: gửi quân vào nông nghiệp, cho binh lính lao động, sản xuất tại địa phương trong một khoảng thời gian xác định”, là chính sách xây dựng lực lượng quân sự thời phong kiến ở Việt Nam, áp dụng từ thời nhà Đinh đến thời Lê Sơ.

Đây là chính sách xây dựng quân đội gắn liền với nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Nhà Đinh là triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam áp dụng chính sách này. Bắt đầu từ thời Lý, quân đội được xây dựng mang tính chính quy và phân cấp thành quân triều đình (cấm quân đóng ở trong và xung quanh kinh thành, chịu trách nhiệm canh gác cung điện, phủ quan…, còn gọi là “thiên tử binh”) và quân địa phương (quân ở các lộ, đạo, dân binh ở hương, động, sách… còn gọi là “lộ quân” hay “sương quân”). Sang thời Trần có thêm quân của các vương hầu nhưng số lượng không đáng kể. Sang thời Hậu Lê thì lực lượng này bị xoá bỏ, chính sách ngụ binh ư nông áp dụng cả với cấm quân ở kinh thành. Từ thời Mạc, áp dụng chế độ “lộc điền” (hay còn gọi là “binh điền”) nhằm ưu đãi cho lực lượng quân đội, chính sách ngụ binh ư nông không còn được áp dụng. Tới khoảng năm 1790, một dạng của phép ngụ binh ư nông được Nguyễn Ánh thi hành ở khu vực Gia Định, miền cực nam Đại Việt, theo đó binh lính cũng được huy động vào việc sản xuất nông nghiệp. Họ vừa tham gia chiến đấu vừa được khuyến khích lẫn bị bắt buộc cầy cấy để tận dụng các mảnh đất bị bỏ hoang vì chiến tranh.

Cách thức tuyển binh được áp dụng tuỳ từng giai đoạn và từng loại quân như cấm quân, lộ quân hay phủ quân… Công việc này do các quan võ ở địa phương trực tiếp thực hiện dựa trên sổ hộ tịch mà các xã quan lập ra. Hàng năm các xã quan có trách nhiệm lập sổ hộ tịch, tiến hành kiểm kê dân đinh ở địa bàn mình quản lý. Trên cơ sở đó, xã quan phân dân sài thành các hạng: tôn thất; quan văn, võ; người hầu hạ; dân lưu xứ; hoàng nam; long lão (người già yếu); người tàn tật. Nhà Lý gọi những đinh nam từ 18 tuổi trở lên đến tuổi binh dịch được gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên gọi là đại hoàng nam. Nhà Trần thì gọi từ 18 đến 20 tuổi là Tiểu hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên là Đại hoàng nam.

Tính quân luật được thực hiện nghiêm ngặt trong việc tuyển binh nhằm tránh hiện tượng khai man, bao che, hối lộ để trốn lính. Ngoài ra triều đình còn thường tiến hành các cuộc thanh tra ở các địa phương để nắm bắt tình hình, kịp thời chuẩn bị phòng khi đất nước có chiến tranh. Thời Trần, những người làm gian lận sổ hộ tịch để che giấu dân định bị rất nặng, người đào ngũ có thể bị chặt ngón chân hoặc thậm chí xử tử như tội phản quốc. Các trường hợp miễn quân dịch được quy định cụ thể như: không lấy con trai độc nhất, không lấy con quan từ Bát phẩm trở lên. Do sự chặt chẽ đó nên quân số được huy động vào mỗi đợt chiến tranh không có sự chênh lệch quá lớn giữa số liệu thực tế và trên sổ sách.

Việc phiên cấp quân địa phương (chia phiên và thời gian tập luyện) khá thuần nhất và đóng vai trò nòng cốt trong chính sách “ngụ binh ư nông”. Sau mỗi lần tuyển binh, quân địa phương được chia thành nhiều “phiên” (một phiên là một đơn vị quân, số lượng tuỳ vào từng địa phương, cốt lấy người khỏe mạnh đủ có thể tham gia quân ngũ). Các phiên sẽ thay nhau tập trung tập luyện tại doanh trại trong một khoảng thời gian nhất định. Mỗi tháng sẽ tiến hành đổi phiên một lần. Việc thay phiên thường được thực hiện vào mồng Một hoặc ngày Rằm. Như vậy trong thời bình, binh lính chia nhau vừa sản xuất nông nghiệp ở địa phương vừa tập luyện ở doanh trại.

Nhu cầu bảo vệ đất nước và bảo vệ chính quyền cai trị cần một lực lượng quân đội hùng hậu. Tuy nhiên, nhu cầu nhân lực để sản xuất nông nghiệp cho đời sống cũng rất lớn. Vì vậy việc đưa quân về địa phương luân phiên cày cấy giúp lực lượng này tự túc được về lương thực, bớt gánh nặng về lương thực nuôi quân cho triều đìnhNgụ binh ư nông là việc liên kết hài hoà giữa việc quân sự và nông nghiệp, giữa kinh tế và quân sự, chuyển hóa nhanh từ thời bình và sang thời chiến khi cần. Nhờ chính sách này, triều đình có được lực lượng quân đội hùng mạnh, đông đảo trong khi sản xuất nông nghiệp vẫn được duy trì. Thời Lý có số quân tham chiến chống nhà Tống khoảng 10 vạn người, thời Trần khi có chiến tranh chống quân Nguyên có hơn 20 vạn quân, sang thời Lê sơ khi có chiến tranh có thể huy động 26-30 vạn quân.

Chính sách ngụ binh ư nông phản ánh tư duy nông binh bất phân (không phân biệt quân đội và nông dân), đâu có dân là đó có quân, phù hợp với điều kiện xây dựng nền quốc phòng của một nước đất không rộng, người không đông, cần phải huy động tiềm lực cả nước vừa sản xuất, vừa đánh giặc.

Tới những thời đại sau thời Lê sơ, chính sách này không còn được áp dụng do tình trạng cát cứ và chiến tranh triền miên trong cả nước. Ngay như thời Tây Sơn, thời đại mà trình độ quân sự phát triển rất cao, yêu cầu tác chiến thường xuyên không cho phép những người lãnh đạo duy trì chính sách này.

Loạn Tam Vương

Loạn Tam vương (三王之亂 Tam vương chi loạn) là một cuộc nổi loạn do 3 hoàng tử nhà Lý gây ra năm 1028, ngay sau khi Lý Thái Tổ băng hà và Thái tử Khai Thiên vương Lý Phật Mã nối ngôi. Loạn Tam vương do các hoàng tử là Vũ Đức vương (武德王), Dực Thánh vương (翊聖王) và Đông Chinh vương Lý Lực (東征王) gây ra do muốn giành ngôi với Khai Thiên vương.

Năm 1028 Thái Tổ Hoàng đế băng hà, chưa tế táng xong thì các hoàng tử là Vũ Đức vương (武德王), Dực Thánh vương (翊聖王) và Đông Chinh vương (東征王) đã đem quân đến vây thành để tranh ngôi của Thái tử.

Bấy giờ các quan đứng đầu là Lý Nhân Nghĩa xin Thái tử Phật Mã cho đem quân ra thành quyết được thua một trận. Khi quân của Thái tử và quân các vương đối trận, thì quan Vũ vệ tướng quân là Lê Phụng Hiểu rút gươm ra chỉ vào Vũ Đức vương mà bảo rằng:

Các người dòm ngó ngôi cao, khi dễ tự quân, trên quên ơn tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này!

Nói xong tướng quân Lê Phụng Hiểu chạy xông vào chém Vũ Đức vương ở trận tiền. Quân các vương trông thấy sợ hãi bỏ chạy cả. Dực Thánh vương và Đông Chinh vương cũng phải chạy trốn.

Cũng trong năm 1028, nghe tin Vũ Đức vương bị giết trong cuộc chiến ngai vàng, Khai Quốc vương Lý Long Bồ đóng ở phủ Trường Yên (Hoa Lư) lòng càng bất bình, cậy có núi sông hiểm trở bèn đem phủ binh làm phản. Lý Thái Tông thân đi đánh. Ngày đến Trường Yên, Khai Quốc vương đầu hàng. Vua hạ lệnh rằng: Ai cướp bóc của cải của dân thì chém. Quân sĩ nghiêm theo, không mảy may xâm phạm. Đại quân vào thành Thăng Long, dân trong thành đem dâng biếu trâu rượu đứng đầy đường. Vua sai sứ tuyên chỉ động viên, cả thành vui to. Vua từ phủ Trường Yên về, xuống chiếu tha tội cho Khai Quốc Vương, vẫn cho tước như cũ.

Dẹp xong loạn Tam vương, ngày Kỷ Hợi (tức ngày 1 tháng 4 năm 1028), Thái tử Lý Phật Mã lên ngôi, tức là Lý Thái Tông. Ông đổi niên hiệu là Thiên Thành (天成). Về sau, Dực Thánh vương và Đông Chinh vương xin về chịu tội. Thái Tông nghĩ tình cốt nhục bèn tha tội cho, và lại phục chức cũ cho cả hai người.

Cũng vì sự phản nghịch của Tam vương, Lý Thái Tông mới lập lệ: cứ hàng năm, các quan phải đến đền Đồng Cổ (ở làng Yên Thái, Hà Nội) làm lễ đọc lời thề rằng:

Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung, xin quỷ thần làm tội.

Các quan ai trốn không đến thề, phải phạt 50 trượng.

Loạn Tam vương đã khiến cho một người em của Lý Thái Tông thiệt mạng. Đó chính là một vết đen trong đời của ông, giống như Đường Thái Tông năm nào với Sự biến cửa Huyền Vũ. Tuy nhiên, giống như Đường Thái Tông Lý Thế Dân, Lý Thái Tông đã bắt tay ngay vào việc phát triển Đại Cồ Việt và xã tắc bắt đầu hưng thịnh từ đây. Tuy nhiên, hai vương làm loạn còn lại ngoài Vũ Đức Vương đều được Lý Thái Tông tha tội.

Lê Văn Thịnh – Vị trạng nguyên đầu tiên của Nho học Việt Nam

Lê Văn Thịnh (chữ Hán: 黎文盛 11 tháng 21050 – ?) là người đỗ đầu trong khoa thi đầu tiên của Nho học Việt Nam, được bổ làm quan, dần trải đến chức Thái sư triều . Năm 1084, ông thành công trong việc bàn nghị về việc cương giới với quan nhà Tống, khiến nước này phải trả lại 6 huyện 3 động thuộc châu Quảng Nguyên cho Đại Việt. Tuy nhiên đến năm 1096 thì ông bị đày rồi mất, sau khi xảy ra “Vụ án hồ Dâm Đàm” (1095).

Lê Văn Thịnh là người làng Đông Cứu, nay là thôn Bảo Tháp, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Tháng 2 năm Ất Mão (1075), vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường, Lê Văn Thịnh dự thi và đã đỗ đầuBan đầu, ông được vào hầu vua học, sau trải thăng chức Nội cấp sự, rồi Thị lang bộ Binh vào năm Bính Thìn (1076).

Tháng 6 năm Giáp Tý (1084), ông được cử đi đến trại Vĩnh Bình (thuộc Cao Bằng ngày nay) để bàn nghị về việc cương giới với Chánh sứ nhà Tống là Thành Trạc. Sau khi đã “phân giải mọi lẽ”, nhà Tống chấp thuận trả lại cho Đại Việt 6 huyện 3 động thuộc châu Quảng Nguyên (nay là phần đất ở phía Tây Bắc tỉnh Cao Bằng) mà họ đã chiếm trước đây, và cho thông sứ như cũ. Theo sử liệu, thì trong dịp này, Lê Văn Thịnh còn được vua Tống ban chức Long Đồ các Đãi chế, và sau đó được vua Lý Nhân Tông cất lên làm Thái sư vào năm Ất Sửu (1085).

Cống hiến cho nhà Lý thêm 10 năm thì xảy ra “vụ án hồ Dâm Đàm” vào năm Ất Hợi (1095). Sau đó (1096), ông bị đày đi Thao Giang (thuộc Tam Nông, Vĩnh Phú ngày nay). Lê Văn Thịnh mất năm nào không rõ.

Sách Đại Việt sử lược ra đời vào thời Trần, kể lại vụ án hồ Dâm Đàm như sau:

“Mùa đông, tháng 11, năm Ất Hợi (1095), nhà vua (Lý Nhân Tông) xem đánh cá ở Diêu Đàm (hay Dâm Đàm, nay là Hồ TâyHà Nội). Lúc bấy giờ vua ngự trong một chiếc thuyền nhỏ, thị vệ theo hầu rất ít. Thái sư Lê Văn Thịnh vốn có mưu gian, nhân cơ hội ấy mới dùng ảo thuật làm khói sương nổi thoắt lên bao phủ cả mặt hồ, ban ngày mà tối tăm mù mịt. Một lát, nhà vua nghe tiếng mái chèo sắp đến gần, vua có ý sợ xảy ra tai biến mới lấy cái mác phóng ra. Khói sương theo cái mác mà tan biến đi thì thấy thuyền của Lê Văn Thịnh đã đến gần, với đồ hung khí. Vua sai người bắt giữ Lê Văn Thịnh lại rồi hạ chiếu đem an trí ở miệt Thao Giang. Trước kia, trong nhà Lê Văn Thịnh có tên đầy tớ là người Đại Lý (tức Vân Nam, Trung Quốc ngày nay), giỏi làm ảo thuật, Lê Văn Thịnh học được phép của nó. Và, đến đây thì làm phản”.

Sau đó, sách Đại Việt sử ký toàn thư ra đời vào thời Hậu Lê kể lại vụ án như sau:

“Mùa xuân, tháng 3, Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết, an trí ở Thao Giang. Bấy giờ vua [Lý Nhân Tông] ra hồ Dâm Đàm, ngự thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt, nói: “Việc nguy rồi!”. Người đánh cá là Mục Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Thịnh là đại thần có công giúp đỡ, không nỡ giết, đày lên trại đầu Thao Giang. Trước đấy Lê Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch.

So lại, nội dung vụ án khá giống nhau, tuy nhiên về sau rõ ràng có sự thêm thắt (rất hoang đường) khi cho rằng Lê Văn Thịnh đã “hóa hổ” để mưu sát. Vụ án trên, lâu nay người ta đã bàn nhiều. Có người nói vì ông bị nghi kỵ nên bị hạ bệ; có người nói ông là nạn nhân bởi “sự xung đột ý thức hệ giữa Phật giáo (Quốc giáo, mà người đứng đầu là Thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông) và Nho giáo (mà đứng đầu là ông). Tuy chưa thống nhất được nguyên nhân, nhưng có một điểm chung là Thái sư Lê Văn Thịnh đã bị hàm oan.

Tại quê hương của Thái sư Lê Văn Thịnh hiện nay có hai khu di tích lập ra để thờ ông (ở Thuận Thành và Gia Bình), và khu lăng mộ của ông cũng đã được trùng tu nhiều lần.

Cảnh Tông Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu

Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu (輔天純皇后) sinh ngày 22 tháng 12 năm 1870 – mất ngày 9 tháng 11 năm 1935), còn được gọi là Đức Thánh Cung (德聖宮), là chính thất của vua Đồng Khánh thuộc triều đại nhà Nguyễn. Bà là đích mẫu của Khải Định và là đích tổ mẫu của Bảo Đại. Bà cùng với Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu, thứ thất của Đồng Khánh, là hai vị Thái hoàng thái hậu cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn cũng như trong lịch sử Việt Nam.

Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu có tên húy là Nhàn (嫻), tên tự là Học Khương (學姜), xuất thân từ dòng họ Nguyễn Hữu Thị (阮有氏) ở Thanh Hóa, con gái thứ hai của Cơ Mật viện Đại thần Kinh lược sứ Bắc Kỳ Vĩnh Quốc công Nguyễn Hữu Độ. Hoàng hậu từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, xinh đẹp và nhân hậu. Khi đến tuổi cập kê, bà được tuyển vào làm chính thất cho Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đàng, người được Tự Đức và Nguyễn Thiện phi nhận nuôi vào năm 1879 và được đưa về Chánh Mông đường (正蒙堂) dạy dỗ. Lúc đó, Ưng Đàng được gọi là Hoàng tử Chánh Mông (皇子正蒙) rồi đổi tên thành Ưng Kỷ. Năm 1882, Hoàng tử được phong làm Kiên Giang quận công (堅江郡公).

Năm 1885, Hàm Nghi phát động Trận Kinh thành Huế 1885 và Phong trào Cần Vương liên tiếp chống Pháp, cuối cùng thất bại và bị tù đày. Giữa lúc đó, chính quyền Pháp buộc triều đình nhà Nguyễn chọn ra một hoàng thân lên ngôi Hoàng đế và Kiên Giang quận công được chọn.

Ngày 19 tháng 9, năm 1885, Kiên Giang quận công đăng cơ tức Đồng Khánh. Bà được phong làm Hoàng quý phi, cho cai quản mọi việc chốn hậu cung với kim bài chiều ngang khắc chữ: “Đồng Khánh sắc tứ”, chiều dọc khắc chữ “Kiêm nhiếp lục viện”. Sau khi Đồng Khánh qua đời năm 1889, bà bị tước đi phong hiệu và sống ẩn dật trong cung.

Năm 1916, Khải Định kế vị ngai vàng, bà được tấn tôn làm Hoàng thái hậu. Đến năm 1923, bà được dâng tôn hiệu là Khôn Nguyên Hoàng thái hậu (坤元皇太后), sinh nhật gọi là Thánh Thọ tiết (聖壽節), vì vậy bà được gọi là Thánh Cung Hoàng thái hậu (聖宮皇太后) hay đơn giản là Đức Thánh Cung (德聖宮). Khải Định khi chầu hầu, tôn gọi là Thánh Mẫu (聖母).

Năm 1933, Bảo Đại tôn phong bà làm Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu (坤元昌明太皇太后). Những năm cuối đời, bà bị liệt giường và chỉ nằm ở cung Diên Thọ do bị bệnh khớp rất nặng.

Năm 1935, Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu băng thệ, thọ 66 tuổi. Lăng của bà được gọi là Tư Minh lăng (思明陵) hay dân gian quen gọi Thánh Cung Lăng (聖宮陵), tọa lạc tại làng Dương Xuân, Hương Thủy, Thừa Thiên.

Cảnh Tông Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu

Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu (佑天純皇后) sinh ngày 18 tháng 4 năm 1868 – 17 tháng 9 năm 1944), còn được gọi là Đức Tiên Cung (德仙宮), là thứ thất của Đồng Khánh thuộc triều đại nhà Nguyễn. Bà là sinh mẫu của vua Khải Định và là tổ mẫu của vua Bảo Đại. Bà cùng với Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu, chính thất của Đồng Khánh, là hai vị Thái hoàng thái hậu cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn cũng như trong lịch sử Việt Nam.

Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu có tên húy là Thục (熟), người huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, con gái của Phú quốc công Dương Quang Hướng (楊光向). Khi đến tuổi cập kê, bà được tuyển vào làm thứ thất cho Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đàng, người được Tự Đức và Nguyễn Thiện phi nhận nuôi vào năm 1879 và được đưa về Chánh Mông đường (正蒙堂) dạy dỗ. Lúc đó, Ưng Đàng được gọi là Hoàng tử Chánh Mông (皇子正蒙) rồi đổi tên thành Ưng Kỷ. Năm 1882, Hoàng tử được phong làm Kiên Giang quận công (堅江郡公).

Năm 1885, Hàm Nghi phát động Trận Kinh thành Huế 1885 và Phong trào Cần Vương liên tiếp chống Pháp, cuối cùng thất bại và bị tù đày. Giữa lúc đó, chính quyền Pháp buộc triều đình nhà Nguyễn chọn ra một hoàng thân lên ngôi Hoàng đế và Kiên Giang quận công được chọn. Ngày 19 tháng 9, năm 1885, Kiên Giang quận công đăng cơ tức Đồng Khánh, bà được phong tước Tiệp dư, thuộc hàng Ngũ giai trong 9 bậc cung giai. Bà sinh được hai người con trai là Nguyễn Phúc Bửu Đảo (阮福寶嶹) và Nguyễn Phúc Bửu Cát (阮福寶嶱), nhưng chỉ có Bửu Đảo còn sống đến tuổi trưởng thành, đồng thời cũng là con trưởng của Đồng Khánh. Vì là sinh mẫu của Hoàng trưởng tử, dù chỉ là thân phận phi tần nhưng bà vẫn được tôn quý không kém gì Hoàng quý phi Nguyễn Hữu thị, chính thất của Đồng Khánh.

Năm Đồng Khánh thứ 4 (1889), Đồng Khánh băng hà khi chỉ mới 24 tuổi. Hoàng trưởng tử Bửu Đảo còn quá nhỏ tuổi, triều đình Huế thông qua ý định của Toàn quyền Pierre Paul Rheinart, đưa con trai của Dục Đức là Nguyễn Phúc Bửu Lân lên kế vị tức Thành Thái. Năm đó, bà được phong Tứ giai Hòa tần (和嬪), con trai bà Bửu Đảo lớn lên với tước vị Phụng Hóa công (奉化公). Năm Duy Tân thứ 8 (1914), bà được nâng làm Tam giai Nghi tần (宜嬪).

Năm Duy Tân thứ 10 (1916), sau nhiều chính biến khiến Thành Thái bị phế, Duy Tân bị lưu đày, Phụng Hóa công Bửu Đảo được kế thừa ngôi vị, tức Khải Định. Bà được sách phong Hoàng thái phi (皇太妃), sinh thần gọi là Tiên Thọ tiết (僊壽節), vì vậy còn gọi là Tiên Mẫu.

Năm Khải Định thứ 8 (1923), tháng 10, bà được chính thức tôn phong làm Khôn Nghi Hoàng thái hậu (坤儀皇太后), cùng năm đó Hoàng thái hậu Nguyễn Hữu thị cũng được đồng sắc phong làm Khôn Nguyên Hoàng thái hậu (坤元皇太后). Vì để phân biệt thứ bậc, người ta bắt đầu gọi Khôn Nguyên Hoàng thái hậu là Thánh Cung Hoàng thái hậu (聖宮皇太后) hay Đức Thánh Cung (德聖宮), còn Khôn Nghi Hoàng thái hậu là Tiên Cung Hoàng thái hậu (僊宮皇太后) hay Đức Tiên Cung (德仙宮).

Năm Bảo Đại thứ 8 (1933), 20 tháng 3, Bảo Đại tôn bà làm Khôn Nghi Xương Đức Thái hoàng thái hậu (坤儀昌德太皇太后).

Năm Bảo Đại thứ 19 (1944), Khôn Nghi Xương Đức Thái hoàng thái hậu băng thệ, thọ 77 tuổi. Lăng của bà được gọi là Tư Thông lăng (思聰陵), dân gian quen gọi là Tiên Cung Lăng (僊宮陵), tọa lạc ở làng An Cựu, Hương Thủy, Thừa Thiên. Dân chúng trong vùng quen gọi là Vạn Vạn lăng (萬萬陵).

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn (陳國峻), con trai thứ ba của Khâm Minh đại vương Trần Liễu – anh cả của Trần Thái Tông Trần Cảnh, do vậy Trần Quốc Tuấn gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột. 

Năm sinh của ông cho đến nay vẫn không rõ ràng, có tài liệu cho rằng là năm 1228, nhưng cũng có tài liệu cho là năm 1230, hay 1231, chung quy đều thiếu luận cứ chắc chắn và độ tin cậy. Nhưng điều đó cũng cho thấy khi ông sinh ra thì triều đại nhà Trần cũng vừa mới thành lập được không lâu (thành lập năm 1225).

Ông có người mẹ nuôi đồng thời là cô ruột, Thụy Bà công chúa (瑞婆公主). Ông quê quán ở thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định ngày nay.

Năm 1237, gia đình ông đã xảy ra biến động. Do chú ông là Trần Thái Tông lên ngôi và kết hôn đã lâu nhưng chưa có con nối dõi, Thái sư Trần Thủ Độ đang nắm thực quyền phụ chính ép cha ông là Trần Liễu phải nhường vợ là Thuận Thiên công chúa (chị của Lý Chiêu Hoàng) cho Trần Thái Tông dù bà đang mang thai với Trần Liễu được ba tháng, đồng thời giáng Lý hoàng hậu xuống làm công chúa.

Phẫn uất, Trần Liễu họp quân chống lại nhưng thế cô không làm gì được, phải xin đầu hàng. Vì Thái Tông cũng thương anh nên xin với Trần Thủ Độ tha tội cho Trần Liễu, nhưng quân lính đều bị giết. Mang lòng hậm hực, Trần Liễu tìm người tài nghệ để dạy văn, võ cho Trần Quốc Tuấn.

Khi trưởng thành, Trần Quốc Tuấn (19 tuổi) đem lòng yêu công chúa Thiên Thành, không biết rõ gốc tích của bà, nhưng các nhà nghiên cứu phần lớn đều đồng tình với quan điểm bà là con gái trưởng của Trần Thái Tông tức là em họ của ông. Đầu năm 1251, Trần Thái Tông muốn gả công chúa cho Trung Thành vương, nên đã cho công chúa đến ở trong dinh Nhân Đạo vương (cha của Trung Thành vương). Ngày rằm tháng giêng, Trần Thái Tông mở hội lớn, ý muốn cho công chúa làm lễ kết tóc với Trung Thành vương. Trần Quốc Tuấn muốn lấy công chúa, nhưng không làm thế nào được, mới nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công chúa thông dâm với nàng.

Mẹ nuôi Trần Quốc Tuấn là Thụy Bà công chúa biết chuyện, sợ ông bị hại trong phủ, liền chạy đến cung điện cáo cấp, xin Trần Thái Tông cứu Trần Quốc Tuấn. Vua hỏi việc gì, Thụy Bà trả lời: “Quốc Tuấn ngông cuồng, đêm lẻn vào chỗ Thiên Thành, Nhân Đạo bắt giữ rồi, e sẽ bị hại, xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu”. Trần Thái Tông vội sai người đến dinh Nhân Đạo vương, vào chỗ Thiên Thành, thì thấy Trần Quốc Tuấn đã ở đấy. Hôm sau, Thụy Bà công chúa dâng 10 mâm vàng đến chỗ Trần Thái Tông xin lễ cưới Thiên Thành công chúa cho Trần Quốc Tuấn. Thái Tông bất đắc dĩ phải gả công chúa cho ông và lấy 2000 khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để hoàn lại sính vật cho Trung Thành vương. Tháng 4 năm đó, Trần Liễu ốm nặng. Lúc sắp mất, Trần Liễu cầm tay Trần Quốc Tuấn, trăn trối: “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”Trần Quốc Tuấn ghi để trong lòng, nhưng không cho là phải.

Tháng Chín (âm lịch) năm Đinh Tỵ (1257), ông được giao trách nhiệm phòng thủ biên giới trước thời điểm quân Mông Cổ xâm lược vào tháng 12 năm 1257. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 9 (1257), (Trần Thái Tông) xuống chiếu, lệnh cho tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới (phía Bắc) theo sự tiết chế của Quốc Tuấn” .

Tuy bị đánh bại lần thứ nhất nhưng Mông Cổ vẫn lớn mạnh ở phía bắc, thành lập nhà Nguyên và tiêu diệt Nam Tống vào năm 1279, tiếp giáp với biên giới Đại Việt. Trước sự bành trường của nhà Nguyên, nhà Trần đã đề phòng, chuẩn bị kháng cự. Trần Quốc Tuấn mở trường dạy võ, dạy con em hoàng tộc và những người tài giỏi trong nước. Ông thường đi khắp các lộ, kiểm soát các giảng võ đường địa phương, thu dụng nhiều người tài giỏi trong nước như Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa, Đỗ Hành…

Đầu năm 1277, Trần Thánh Tông thân chinh đánh các bộ tộc thiểu số ở động Nẫm Bà La (nay thuộc Quảng Bình). Trần Quang Khải đi theo, ghế tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương Bắc đến. Thượng hoàng Trần Thái Tông gọi Trần Quốc Tuấn tới, tỏ ý định lấy ông làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc. Trần Quốc Tuấn trả lời:

“Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Quang Khải. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn”.

Khi Thánh Tông trở về, việc ấy lại bỏ đấy, vì hai người vốn không ưa nhau.

Sau đó, Trần Quốc Tuấn chủ động gạt bỏ hiềm khích với Trần Quang Khải vì việc nước. Một hôm, Trần Hưng Đạo từ Vạn Kiếp tới, Trần Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Trần Quang Khải vốn sợ tắm gội, Trần Hưng Đạo thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Trần Quang Khải: “Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm”, rồi cởi áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói: “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”. Trần Quang Khải cũng nói: “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho”. Từ đó, tình nghĩa qua lại giữa hai ông ngày càng tốt.

Năm 1282, nhà Nguyên sai Toa Đô mang quân vượt biển đánh Chiêm Thành ở phía nam Đại Việt. Chiến tranh giữa Đại Việt với nhà Nguyên đến gần. Tháng Mười năm 1283, để chuẩn bị kháng chiến lần hai, Trần Hưng Đạo được thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân. Ông chọn các quân hiệu tài giỏi, cho chia nhau chỉ huy các đơn vị quân đội. Tháng Tám năm sau (1284), ông cho duyệt quân ở bến Đông Bộ Đầu (gần dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay), đọc bài “Hịch tướng sĩ” nổi tiếng, rồi chia quân đóng giữ Bình Than và các nơi hiểm yếu khác. Tháng 7 âm lịch năm 1284, nhà Nguyên sai Trấn Nam vương Thoát Hoan, A Lý Hải Nha tập trung 50 vạn quân ở hành tỉnh Hồ Quảng, dự đinh sang năm xâm lược Đại Việt. Tháng 11 âm lịch năm 1284, Trần Nhân Tông sai Trần Phủ sang hành tỉnh Hồ Quảng (Đại Nguyên) xin hoãn binh. Khi trở về, Trần Phủ báo tin Hốt Tất Liệt sai Thoát Hoan, A Lý Hải Nha lấy danh nghĩa mượn đường đánh Chiêm Thành, mang đại quân tiến vào đất Việt. Đầu năm 1285, quân Nguyên Mông lại ào ạt tiến công vào phía bắc và vùng Thanh Hóa-Nghệ An. Hưng Đạo vương đốc các quân đánh chặn ở biên giới nhưng thất bại, quân Đại Việt bị tổn thất. Trần Hưng Đạo phải thu quân về Vạn Kiếp. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, quân Đại Việt đã tan vỡ; Trần Quốc Tuấn thoát được là nhờ có Yết Kiêu kiên quyết giữ thuyền đợi chủ tướng.

Thủy quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy tấn công vào Vạn Kiếp, quân Nguyên vây quân của Trần Quốc Tuấn. Một trận thủy chiến lớn giữa 2 bên đã diễn ra. Vua Trần đã đem quân đến trợ chiến cho Trần Quốc Tuấn. Ô Mã Nhi đã không ngăn nổi quân Đại Việt rút lui. Toàn bộ quân Đại Việt rút khỏi Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than về dàn trận bên bờ sông Hồng gần thành Thăng Long. Quân Nguyên tiến theo đường bộ về Thăng Long. Để bảo toàn lực lượng và thực hiện kế “thanh dã” (vườn không nhà trống), Trần Hưng Đạo ra lệnh rút quân. Quân xâm lược vào Thăng Long rồi tiến xuống Thiên Trường (vùng Nam Định) đuổi theo vua Trần. Thượng hoàng Thánh Tông lo ngại, vờ hỏi ông xem có nên hàng không. Ông khảng khái trả lời “Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng”. Sau trận quân Đại Việt phản công quân Nguyên không thành và việc mặt trận Thanh-Nghệ bị tan vỡ (do sự phản bội của Trần Kiện), đại quân Việt chỉ lâm vào thế bị ép từ 2 mặt Bắc-Nam. Trần Hưng Đạo đưa thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông rút về vùng bờ biển ở Quảng Ninh và Hải Phòng ngày nay, là nơi mà quân Nguyên chưa vươn tới. Trong hành trình rút lui, quân Đại Việt bị quân Nguyên đuổi gấp. Trước thế quân Nguyên Mông bức bách, ông đưa hai vua Trần ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên (sông Ba Chẽ, thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay), sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn địch. Lúc ấy, xa giá nhà vua đang phiêu giạt, lại còn mối hiềm cũ của Trần Liễu, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi, chỉ chống gậy không mà đi, bởi vậy hai vua Trần và mọi người khỏi nghi ngại. Khi thấy đạo quân của Toa Đô đã rời Thanh Hóa tiến lên đóng ở Trường Yên (Ninh Bình), ngày 7 tháng 4 năm 1285, Trần Hưng Đạo lại đưa 2 vua Trần cùng đại quân vượt biển vào Thanh Hóa, thoát khỏi thế bị kìm kẹp của đối phương. Hàng loạt tông thất nhà Trần ra hàng quân Nguyên như hoàng tử Trần Ích Tắc, các hoàng thân Trần Lộng, Trần Kiện.

Tháng 5 (dương lịch) năm ấy (1285), ông vạch kế hoạch tổng phản công. Chỉ sau một tháng chiến đấu quyết liệt với quân Nguyên, các cánh quân Đại Việt do Trần Hưng Đạo cùng Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chỉ huy thắng lợi ở Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp,… quân dân Đại Việt đã tiến vào Thăng Long, Thoát Hoan bỏ chạy. Trần Hưng Đạo và anh là Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung dẫn hơn 2 vạn quân tấn công quân Nguyên ở bờ Bắc sông Hồng. Quân Nguyên đại bại rút chạy về phía Bắc.[19]. Quân Đại Việt do con Trần Hưng Đạo là Trần Quốc Hiến (Trần Quốc Nghiễn) chỉ huy truy kích đến tận biên giới, quân Nguyên phải giấu Thoát Hoan trong ống đồng để chạy trốn. Trong cuộc chiến này, quân Đại Việt giết được tướng Nguyên là Toa Đô và Lý Hằng.

Tháng 3 âm lịch năm 1286, hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt sai Thượng thư tỉnh Áo Lỗ Xích (Auruyvci), Bình chương sự Ô Mã Nhi (Omar) huy động 50 vạn quân, rồi sai hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 thuyền chiến, định đến tháng 8 hội quân ở Khâm Châu, Liêm Châu. Hốt Tất Liệt còn sai quân ba hành tỉnh Giang Chiết, Hồ Quảng, Giang Tây chuẩn bị đánh Đại Việt, mượn danh nghĩa đưa phản thần nhà Trần là Trần Ích Tắc về làm An Nam Quốc vương. Tháng 6 âm lịch, vua Trần Nhân Tông xuống chiếu cho vương hầu, tôn thất chiêu mộ binh sĩ. 

Vua Trần Nhân Tông cử Hưng Đạo vương thống lĩnh vương hầu luyện tập binh sĩ, sửa sang khí giới, đóng thuyền chiến. Tháng 2 âm lịch năm 1287, nhà Nguyên điều động quân Mông Cổ, quân Hán Nam (người Hán ở miền Nam Trung Quốc), quân 3 hành tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng, quân Vân Nam, quân người Lê ở 4 châu ngoài biển, chia làm nhiều cánh tràn vào Đại Việt. Vạn hộ Trương Văn Hổ dẫn quân thủy chở 70 vạn thạch lương theo sau. Hốt Tất Liệt còn lập Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh do Bình chương sự Áo Lỗ Xích, các Tham tri chính sự Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đứng đầu; cơ quan này phải chịu sự sai khiến của Thoát Hoan. Các quan Đại Việt xin bắt tráng đinh sung quân để quân đội đông hơn, nhưng Hưng Đạo Vương không đồng ý.

Ngày 14 tháng 11 âm lịch 1287, Trịnh Xiển báo tin cánh quân Vân Nam của Nguyên đánh ải Phú Lương. Trần Nhân Tông hỏi Hưng Đạo vương: “Năm nay đánh giặc thế nào?”. Ông vẫn quả quyết: “Năm nay đánh giặc nhàn”. Lần này biết nhà Trần đã phòng bị ở Thanh – Nghệ, Thoát Hoan tiến thẳng vào từ phía bắc và đông bắc. Sau những cuộc đụng độ bất lợi ở biên giới, quân Đại Việt rút lui. Khác với lần trước, Trần Hưng Đạo không bỏ kinh đô mà tổ chức phòng thủ ở Thăng Long. Tháng 2 năm 1288, quân Nguyên đánh thành, quân Đại Việt nấp trong thành bắn tên đạn ra. Trần Quốc Tuấn sai Trần Cao vài lần đến trại Thoát Hoan xin giảng hoà, nhưng ban đêm thường kéo ra từng toán nhỏ đánh lén vào trại quân Nguyên, đốt phá lương thực rồi rút lui. Thoát Hoan điều quân ra ngoài truy kích, nhưng quân Đại Việt thường ẩn nấp khó phát hiện ra. Quân Nguyên bao vây tấn công vài lần không có kết quả, cuối cùng phải rút lui.

Trong khi đó, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị Trần Khánh Dư chặn đánh tiêu diệt ở Vân Đồn. Thoát Hoan bỏ Thăng Long về hành dinh Vạn Kiếp. Do bị thiếu lương và bệnh dịch, Thoát Hoan buộc phải rút lui, một ngả của thủy quân do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy, một ngả của bộ binh do Thoát Hoan chỉ huy. Trần Hưng Đạo bố trí lực lượng mai phục ở cửa sông Bạch Đằng trực tiếp tổ chức chiến trường tiêu diệt toàn bộ binh thuyền của Ô Mã Nhi vào tháng Tư (âm lịch) năm Mậu Tý (1288), bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và Tích Lệ Cơ. Thoát Hoan dẫn quân bộ tháo chạy theo đường Lạng Sơn, dọc đường bị quân Việt đón đánh khiến “quân sĩ mười phần, tổn hại mất 5, 8 phần”

Do đã có những công lao to lớn trên con đường vệ quốc, gìn giữ độc lập, Vua đã trao cho ông vị trí tối cao toàn quyền chỉ huy quân đội toàn quốc, đồng thời cho phép ông phong tước, hiệu cho bất kỳ ai mà ông muốn. Nhưng trong suốt cuộc đời, ông không hề sử dụng đặc quyền này.

Tháng Tư (âm lịch) năm Kỷ Sửu (1289), luận công ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông, Trần Hưng Đạo được phong tước Hưng Đạo đại vương. Sau đó, ông lui về ở Vạn Kiếp, là nơi ông được phong ấp (nay thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Nhân dân lúc bấy giờ kính trọng ông, lập đền thờ sống ông ở Vạn Kiếp. Tại đền có bài văn bia của vua Trần Thánh Tông, ví ông với Thượng phụ (tức Khương Tử Nha).

Tháng Sáu (âm lịch) năm Canh Tý (1300), Trần Hưng Đạo ốm nặng. Chữa mãi không khỏi bệnh, ông mất vì tuổi già vào ngày 20 tháng Tám (âm lịch) năm ấy. Khi sắp mất, Trần Hưng Đạo vương dặn các con rằng: “Ta chết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườn An Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào, lại phải làm sao cho mau mục” Nghe tin Trần Hưng Đạo vương mất, triều đình Đại Việt phong tặng ông là “Thái sư Thượng Phụ Thượng Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương”. Ông được nhân dân cả nước tôn vinh là “Đức Thánh Trần” và lập đền thờ ở nhiều nơi, song nổi tiếng hơn cả là Đền Kiếp Bạc ở xã Hưng Đạo (Chí Linh, Hải Dương). Đây là nơi ông lập căn cứ, tích trữ lương thực, huấn luyện quân sĩ trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông.

Mạc Đĩnh Chi – Hoa sen trong giếng ngọc

Mạc Đĩnh Chi (莫挺之, 1272 – 1346), tên tự là Tiết Phu (節夫), hiệu là Tích Am (僻庵) là một quan đại thần triều Trần. Năm 1304, đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, ông thi đỗ trạng nguyên.  Nhờ thông minh, hiểu biết sâu rộng, ông nhiều lần được cử đi sứ sang Trung Quốc. Ngoài ra, ông còn được biến đến như là tổ tiên trực hệ của các đời Hoàng đế nhà Mạc, được Mạc Thái Tổ truy tôn miếu hiệu là Viển Tổ, thụy là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế (建始欽明文皇帝).

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Mạc Đĩnh Chi quê ở xứ làng Bàng Hà và Ba Điểm. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1287 đã theo hàng quân Nguyên. Nhà Trần sau chiến thắng đã trị tội cả làng, bắt dân làm lính hầu cho các vương hầu nhà Trần, không cho làm quan, nhưng sau này năm 1304, Mạc Đĩnh Chi vẫn được ứng thi và làm quan.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí, Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, Hải Đông (tỉnh Hải Dương hiện nay), tổ tiên là Mạc Hiển Tích đỗ khoa Thái học sinh năm Bính Dần đời vua Lý Nhân Tông. Ông thông minh hơn người, nhưng tướng mạo xấu xí.[1]

Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc mở học đường, tập hợp văn sĩ bốn phương, chu cấp cho ăn mặc, đào tạo nhiều nhân tài, trong đó có Mạc Đĩnh Chi.Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: Ích Tắc là con thứ của Thượng hoàng, thông minh hiếu học, thông hiểu lịch sử, lục nghệ, văn chương nhất đời. Dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ, không nghề gì không thông thạo; từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài như Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châu v.v… gồm 20 người, đều được dùng cho đời.

Năm 1304 đời vua Trần Anh Tông, triều đình mở khoa thi Cống sĩ lấy 44 người đỗ Thái học sinh. Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên; Bùi Mộ đỗ bảng nhãn, Trương Phóng đỗ thám hoa. Khi mới đỗ nhà vua chê ông xấu, Mạc Đĩnh Chi bèn làm bài phú Ngọc tỉnh liên (Sen trong giếng ngọc) để tự ví mình với sen. Trong bài phú có đoạn:

Há rằng trống rỗng bất tài

Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.

Nếu ta giữ mực thẳng ngay.

Mưa sa gió táp xem nay cũng thường

Vua Trần Anh Tông xem rồi khen hay, thăng làm Thái học sinh dũng thủ, sung chức Nội thư gia. Thời vua Trần Minh Tông, Mạc Đĩnh Chi càng được tin dùng hậu đãi. Ông là người liêm khiết, vua biết muốn thử ông, sai người đem 10 vạn quan tiền để trước cửa nhà ông. Sáng hôm sau Đĩnh Chi đem túi tiền lên triều, tâu nhà vua, Vua nói: Không ai nhận tiền ấy, thì cho khanh lấy mà chi dùng.

Thời vua Trần Hiến Tông ông làm chức Nhập nội hành khiển, Lang trung hữu ty, chuyển sang làm Lang trung tả ty trải đến chức Tả bộc xạ ở hàng quan to.

Năm 1308 đời vua Trần Anh Tông, Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, mừng vua Nguyên Vũ Tông mới lên ngôi. Đó là lúc mới 20 năm sau chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ 3 (1287-1288), tuy nhiên trong hoạt động bang giao ông đã tỏ rõ khí phách và tài năng của mình. Hoạt động và tài năng văn chương của ông đã để lại nhiều giai thoại nổi tiếng.

Tổ tiên là Mạc Hiển Tích đỗ khoa Thái học sinh năm Bính Dần đời vua Lý Nhân Tông sinh ra Mạc Hiển Đức, Hiển Đức sinh Hiển Tuấn, Hiển Tuấn sinh Đĩnh Kỳ. Mạc Đĩnh Kỳ sinh Mạc Đĩnh Chi. Mạc Đĩnh Chi sinh ra Mạc Cao, Mạc Cao sinh ra Mạc Thuý, Mạc Thuý sinh ra Mạc Tung, dời sang ở xã Lan Khê, huyện Thanh Hà rồi sinh ra Mạc Bình, Mạc Bình lại dời sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi trú tại đó. Bình sinh ra Mạc Hịch, Mạc Hịch lấy con gái trưởng của Đặng Xuân người cùng xã, sinh được ba con trai, con trưởng là Mạc Đăng Dung, con thứ là Mạc Đốc Tín, con út là Mạc Quyết. Năm 1406, nhà Minh xâm lược, Mạc Địch, Mạc Thúy, Mạc Viễn và Nguyễn Huân mạo nhận là họ Mạc đều là những kẻ bất đắc chí, đón hàng quân Minh, người Minh đều trao cho quan chức. Sau Mạc Thúy làm đến Tham chính; Mạc Địch làm đến Chỉ huy sứ; Mạc Viễn làm đến Diêm vận sứ; Huân làm đến Bố chính; (Thúy, Địch, Viễn là cháu Mạc Đĩnh Chi)

Cuộc Nam chinh đầu tiên của người Việt

Năm 972, vua Chiêm Jaya Indravarman Iraq từ trần, con là Ba Mỹ Thuế, tức Paramesvaravarman I (972-982), lên kế vị. Nội bộ của Chiêm Thành trong giai đoạn này rất hỗn loạn, năm 978, một người tên Kinan Tache mang phẩm vật sang Trung Hoa triều cống để được phong làm vua Chiêm Thành nhưng không được nhà Tống chấp nhận. Trong lúc đó, lợi dụng tình trạng loạn lạc tại Đại Cồ Việt (loạn 12 sứ quân, từ năm 944 đến 972), quân Chiêm Thành nhiều lần tiến lên đánh phá những quận huyện ở phía Nam, gây nhiều thiệt hại nhân mạng và tài sản.

Năm 979, hay tin Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, Ngô Nhật Khánh, một sứ quân Đại Cồ Việt lưu vong, thuyết phục vua Paramesvaravarman I dẫn hơn một ngàn chiến thuyền từ Chiêm Thành vào chiếm Hoa Lư, nhưng không thành do gặp bão to bị đắm nhiều. Ngô Nhật Khánh chết đuối, quân Chiêm phải rút về. Tình hình chính trị của Đại Cồ Việt trong giai đoạn này cũng không lấy gì làm sáng sủa : tân vương là Đinh Toàn còn quá nhỏ (6 tuổi), thái hậu Dương Vân Nga không thể một mình đảm đương việc nước. Phía Bắc quân Tống lăm le tiến xuống, phía Nam quân Chiêm sẵn sàng đánh lên.

Năm 980, Dương Vân Nga đưa Lê Hoàn làm vua Đại Cồ Việt, hiệu Lê Đại Hành. Tân vương sai sứ sang Trung Hoa báo tin, dâng vài tù binh Chiêm vừa bắt được làm quà biếu. Vua Tống nhận tặng phẩm nhưng lại muốn duy trì ảnh hưởng tốt với Chiêm Thành, sai thống đốc Quảng Châu cho những tù binh Chiêm ăn uống rồi thả về nước.

Năm 982, sau khi đánh lui quân Tống, Lê Hoàn cử Ngô Tử Canh và Từ Mục đi sứ Chiêm Thành nhưng bị vua Chiêm bắt giữ. Vua Lê Đại Hành tức giận, sai đóng chiến thuyền, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém Paramesvaravarman I tại trận. Chiêm Thành thua to. Quân Đại Cồ Việt bắt sống được binh lính nhiều vô kể, cùng là tài nữ trong cung trăm người và một nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn; san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư.

Triều đại Indrapura tiêu vong từ đây. Indravarman IV được các cận thần tôn lên làm vua, chạy vào Panduranga (khu vực nay là Ninh Thuận và Bình Thuận) lánh nạn.

Sau chiến thắng này, văn hóa và nghệ thuật (nhất là âm nhạc) Chiêm Thành chính thức được du nhập vào đời sống cung đình và dân gian Việt. Đền đài, dinh thự tại Hoa Lư được trang trí bằng những chiến lợi phẩm do các thợ Chiêm Thành chạm trổ và sản xuất ra.

Phạm Bạch Hổ

Phạm Bạch Hổ (范白虎; 910 – 972) tên xưng Phạm Phòng Át (范防遏), là võ tướng các triều  Ngô và triều Đinh và là một sứ quân trong loạn 12 sứ quân cuối thời. Ông là người gốc Nam Sách, Hải Dương nhưng được sinh ra và lớn lên ở Đằng Châu, Hưng Yên.

Phạm Bạch Hổ từng tham gia trận chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Ngô Vương băng, ông chiếm giữ đất Đằng Châu và trở thành một tướng trong loạn 12 sứ quân (966 – 968).

Theo Đại Nam Nhất thống chí, Phạm Bạch Hổ sinh ngày 10 tháng 1 năm Canh Ngọ (910), phụ thân là Phạm Lệnh Công người lộ Nam Sách Giang, là một công thần dưới triều Ngô vương. Lệnh Công có tiệm buôn ở Đằng Châu, tại đây ông có vợ và sinh ra Phạm Bạch Hổ. Tương truyền mẫu thân ông nằm mộng thấy Sơn Tinh và Hổ trắng mà có mang nên đặt tên ông là Bạch Hổ. Lớn lên Bạch Hổ có thân hình vạm vỡ, mạnh mẽ như hổ, thông minh hơn người, văn võ song toàn.

Ông sinh ra trong một dòng họ giàu truyền thống võ nghệ, đời đời làm hào trưởng vùng Trà Hương. Nội tổ phụ là Phạm Chí Dũng vốn là Hồng châu tướng quân. Huynh trưởng  Phạm Man là Tham chính đô đốc đời Nam Tấn vương Ngô Xương Văn. Các cháu ông như Phạm Hạp và Phạm Cự Lang đều là các tướng giỏi thời Đinh được người đời sau ca tụng là “Giao Châu thất hùng”. Nữ nhi Phạm Thị Ngọc Dung là thê của Ngô Xương Ngập và sinh ra Ngô Xương Xí, sau trở thành một trong 12 sứ quân. Phạm Bạch Hổ từng làm hào trưởng đất Đằng Châu, theo phò tá Dương Đình Nghệ.

Năm Tân Mão 931, ông giúp chủ tướng đánh đuổi Lý Tiến, thứ sử Giao Châu của nước Namvà sau đó đánh bại Trần Bảo do Lưu Nghiễm cử sang cứu viện. Dương Đình Nghệ xưng Tiết độ sứ, dùng ông làm nha tướng. Khi Kiều Công Tiễn giết chết chủ tướng Dương Đình Nghệ đoạt chức rồi cầu cứu quân Nam Hán sang xâm lược. Phạm Bạch Hổ đã phối hợp với Ngô Quyền đem quân tiêu diệt Kiều Công Tiễn và đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm Mậu Tuất (938). Nhà Ngô phong ông chức Phòng Át Tướng công, trấn giữ toàn cõi Hải Đông (khu vực nam Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay). Khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha cướp ngôi vua của Ngô Xương Ngập. Vùng núi Hun Sơn của cha con ông là nơi che chở cho Ngô Xương Ngập 2 lần trốn thoát khỏi truy lùng của họ Dương. Sau khi Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi giúp Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha, Phạm Bạch Hổ tham gia giúp Hậu Ngô Vương. Năm 965, Hậu Ngô Vương mất, các hào kiệt trong nước nổi lên cát cứ từng vùng. Phạm Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu và là một trong mười hai sứ quân thời đó. 

Ngoài việc chiếm đóng Hải Đông, Phạm Phòng Át còn mở rộng lãnh địa bằng các cuộc tấn công về phía nam thuộc lãnh địa Kỳ Bố Hải Khẩu của sứ quân Trần Lãm và về phía bên kia sông Hồng tại các vùng Hà Nam, Nam Định ngày nay.

Đinh Bộ Lĩnh được sứ quân Trần Lãm  giao toàn bộ binh quyền, mang quân đánh dẹp loạn 12 sứ quân. Đầu năm 966, Phạm Bạch Hổ mang quân về Hoa Lưa theo hàng Đinh Bộ Lĩnh, được phong là Thân vệ Đại tướng quân. So với 2 tướng cũ nhà Ngô khác là Kiều Công Hãn và Đỗ Cảnh Thạc vẫn kiên quyết chống cự ngay cả khi các hậu duệ nhà Ngô đã hàng phục và về với nhà Đinh, có thể Phạm Bạch Hổ là người ít có tham vọng bá vương hơn nhưng có con mắt tinh đời, biết nhìn nhận thời thế nên thoát khỏi cảnh binh đao, chết chóc. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, phong Phạm Bạch Hổ chức Thân vệ Đại tướng quân.

Ngày 16 tháng 11 năm Nhâm Thân (972), Phạm Bạch Hổ mất tại quê nhà, thọ 62 tuổi. Đinh Đế đã sắc cho nhân dân lập đền thờ, các triều đại đều phong tặng ông là: “Khai thiên hộ quốc tối linh thần”. Tuy nhiên một số nguồn tin khác cho biết ông còn sống đến tận khi Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế thay nhà Đinh, tức năm 983, thọ 73 tuổi.

Đinh Điền

Đinh Điền (丁佃; 924 – 979) quê ở làng Đại Hữu, nay là xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình, là một trong số những công thần khai quốc của triều Đinh. Dân gian xem ông như một biểu tượng của tinh thần hào hiệp, trượng nghĩa và trung thành. Ông được liệt vào danh sách “Giao Châu thất hùng”.

Sử sách viết ông là bạn đồng hương với Đinh Bộ Lĩnh. Theo thần phả đền thờ Đinh Điền ở Yên Mô, Ninh Bình và theo “Những nhân vật lịch sử thời Đinh Lê” thì cha ông là Đinh Thân, mẫu thân là Dương Thị Liễu. Quê mẹ ở Yên Bạc, nay là xã Yên Phú, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Khi mới sinh Đinh Điền có tên gọi là Đinh Trào. Điền là tên chữ của ông và quen được gọi bằng tên này. Ông cùng tuổi với Lĩnh và là người cùng làng Đại Hữu. Khi còn là trẻ nhỏ, đi chăn trâu ở Thung Lau (động Hoa Lư, Gia Viễn), Đinh Điền đã cùng lũ trẻ lấy hoa lau làm cờ, khoanh tay làm kiệu, suy tôn và rước Đinh Bộ Lĩnh làm chúa.

Năm 965, nhà Ngô mất. Ông cùng các chiến hữu giúp Lĩnh đánh dẹploạn 12 sứ quân trong 3 năm, thống nhất giang sơn về một mối. Theo sử sách, Đinh Điền được vua Đinh cử giữ chức Ngoại giáp, nghĩa là coi việc bên ngoài, theo thần phả thì ông giữ chức Nhập nội kiểm giáo Đại Tư đồ, Bình chương trọng sự.

Năm Kỷ Mão (979), Đinh Đế và Nam Việt Vương Đinh Liễn bị sát hại, triều đình tôn người con còn lại của Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi kế vị. Lê Hoàn làm Nhiếp chính đại thần, thường ra vào cung cấm tư thông với thái hậu Dương thị là mẹ của ấu chúa. Sau đó, Hoàn lại tự xưng là Phó Vương, mọi việc trọng sự đều do tay Lê Hoàn sắp đặt. Đinh Điền cho rằng Lê Hoàn có ý đồ thoát đoạt. Ông bàn với Nguyễn Bặc và Phạm Hạp cùng một số trung thần khác, bỏ quan về ở ẩn để mưu tính đại sự. Ông tập kết các anh hào, tướng sĩ trung thành với nhà Đinh để chuẩn bị đánh Lê Hoàn. Đinh Điền hợp quân với Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, đem hai đạo quân thuỷ bộ từ Ái Châu (Thanh Hóa) tiến về kinh thành Hoa Lư mưu giết Lê Hoàn, thu giang sơn lại cho nhà Đinh. Nhưng Lê Hoàn lợi dụng gió đông nam thổi mạnh, đánh một trận hoả công, đốt sạch thuyền bè, quân sĩ của Đinh Điền, Nguyễn Bặc. Đạo thuỷ quân tan rã, Đinh Điền bị tử trận. Sau đó không lâu, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp cũng bị Lê Hoàn đánh bại, bị bắt và bị xử tử.

Về thời gian diễn ra trận chiến và cái chết của Đinh Điền, các nguồn tài liệu ghi khác nhau. Sử sách thống nhất ghi việc này diễn ra vào cuối năm 979. Theo thần phả ở Ninh Bình, việc này diễn ra ngày 20 tháng 4 năm Canh Thìn (tức 5 tháng 6 năm 980). Một số thần phả khác, được Từ điển các nhân vật lịch sử Việt Nam dẫn lại, cho rằng ông cùng vợ là Phan Môi Nương bị thua trận, quân tan nát hết nên cùng nhau tự vẫn ngày 20 tháng 11 năm Kỷ Mão (tức 12 tháng 12 năm 979) chứ không phải ông bị tử trận.

Định Quốc công Nguyễn Bặc

Nguyễn Bặc (924 – 15/10/979), hiệu Định Quốc Công (定國公), là khai quốc công thần triều Đinh, có công giúp Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn 12 sứ quân vào thế kỷ 10. Do lập công lớn, ông được vua Đinh phong là Định Quốc Công. Theo các gia phổ họ Nguyễn và tài liệu “Lược sử họ Nguyễn tại Việt Nam”, ông được tôn là bậc tiền thủy tổ họ Nguyễn chính thống ở Việt Nam. Theo sách “Nguyễn Phúc tộc thế phả” ông được xem là thủy tổ của dòng họ Nguyễn Phúc sau này lập ra dòng Chúa Nguyễn ở miền Nam. Ông được Việt Sử tân biên liệt vào danh sách “Giao Châu thất hùng”, tức 7 anh hùng người Giao Châu.

Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nguyễn Bặc là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng. Thuở nhỏ, ông đã cùng kết bạn với Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ. Tương truyền Nguyễn Bặc là người giỏi võ nghệ và có sức khỏe phi thường. Ông từng dùng tay không bắt sống cọp đem bán cho các hào phú. Tánh tình ông thẳng thắn, bộc trực.

Nguyễn Bặc cư xử với Đinh Bộ Lĩnh không khác Quan Vũ đối với Lưu Bị. Ông luôn cắp giáo đứng hầu mỗi khi Đinh Bộ Lĩnh bàn việc quân, hay nếm trước thức ăn để tránh cho Lĩnh khỏi bị đầu độc. Khi ra trận mạc ông luôn xông pha đi đầu. Có lần Đinh Bộ Lĩnh bị trúng tên ngã ngựa, Bặc cõng vua trên lưng, leo lên núi đá dựng đứng để thoát vòng vây. Ngoài trận đánh Nguyễn Siêu, Nguyễn Bặc chỉ huy các trận đánh buộc Pham Bạch Hổ ở Đằng Châu, Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm và Ngô Xương Xí ở Bình Kiều phải quy thuận. Trong trận đánh sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Bặc và Hoàng Định chỉ huy cánh quân đánh vào thành Trại Quyền (Quốc Oai).

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng. Nguyễn Bặc được phong làm Định Quốc Công, đứng đầu các công thần, quản lý việc nội chính. Đinh Điềnđược phong làm ngoại giáp, Hoàng Định từ quan về với đời thường làm dân thường áo vải, ông được dân Mạc Cả (Tề Lễ) – Phong Châu tôn là thành hoàng thờ Đình làng nay thuộc xã Cao Xá. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại. Quan Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích bị nghi là thủ phạm hàng đầu, sợ hãi bỏ trốn. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ba ngày sau, Thích khát nước khát thò tay ra hứng nước mưa uống, bị cung nữ phát hiện đi báo. Nguyễn Bặc lập tức bắt giết ngay Đỗ Thích. Ông cùng các đại thần tôn phò con nhỏ của Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn lên ngôi, tức là Đinh Phế Đế. Mẹ Phế Đế là Dương Vân Nga trở thành thái hậu. Tuy nhiên rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu sử gia hiện nay lại cho rằng Đỗ Thích là người bị oan cho là trực tiếp giết hại cha con Nam Việt Vương và chủ mưu chính là Lê Hoàn và Dương hậu, mà Đỗ Thích chỉ là quan chi hậu nên bị ép buộc nhưng chưa thực hiện được ý đồ nên là đồng phạm.

Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nguyễn Bặc, Đinh Điền làm phụ chính cho Phế Đế, nhưng lúc đó Dương thái hậu tư thông với Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, cho Lê Hoàn làm Phó vương, nắm quyền chỉ huy quân đội, chuyên quyền, tự do ra vào cung cấm. Nguyễn Bặc lo lắng bàn với các tướng:

“Lê Hoàn sẽ bất lợi cho “nhụ tử”, chúng ta chịu ơn dày của nước, nếu không tính tước đi, giữ cho xã tắc được yên thì còn mặt mũi nào trông thấy Tiên đế ở suối vàng nữa?”.

Ông bèn cùng Đinh Điền, Phạm Hạp khởi binh, chia hai đường thủy bộ cùng tiến đánh Lê Hoàn. Nguyễn Bặc và Đinh Điền kéo quân từ châu Ái (nay thuộc Thanh Hóa), định kéo thẳng đến kinh đô để giết Lê Hoàn. Dương thái hậu nghe tin, bảo Lê Hoàn:

“Bọn Bặc nổi loạn, quan gia hãy còn thơ ấu, cáng đáng sao nổi giữa lúc quốc gia lắm nạn này! Ông nên tính đi”.

Lê Hoàn nói:

“Tôi đây làm phó vương, quyền giữ việc nước, dù sống chết cũng xin gánh lấy trách nhiệm”.

Lê Hoàn liền sắp xếp quân đội, đánh nhau với Nguyễn Bặc, Đinh Điền ở Ái Châu. Lê Hoàn vốn là người giỏi dùng binh, Nguyễn Bặc và Đinh Điền không chống nổi, lại đem quân thủy ra đánh. Lê Hoàn theo chiều gió, phóng lửa đốt cả thuyền chiến. Đinh Điền bị chết tại trận, còn Nguyễn Bặc bị bắt, đưa về kinh đô. Trước mặt Nguyễn Bặc, Lê Hoàn kể tội ông:

“Đấng Tiên đế mắc nạn, thần và người đều căm giận, ngươi lại nhân lúc tang tóc rối ren, đứng đầu làm giặc! Đạo tôi con đâu có như thế?”.

Rồi Lê Hoàn giết hại ông. Năm đó ông 55 tuổi, cùng sinh một năm và chết 1 năm với Đinh Tiên Hoàng.

Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã chết rồi, quân của Phạm Hạp mất tinh thần, chạy lên hương Cát Lợi ở Bắc Giang. Lê Hoàn đem quân đuổi theo, bắt đưa về kinh đô, giết chết. Các đạo quân chống đối bị tiêu diệt, Lê Hoàn được sự hỗ trợ của Dương thái hậu và tướng quân Phạm Cự Lạng, liền phế Đinh Toàn làm Vệ vương như cũ, giành lấy ngai vàng, tức là vua Lê Đại Hành, lập ra nhà Tiền Lê.

Hiến Tổ Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Phạm Đăng thị

Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Phạm Đăng thị, thường được biết đến với tôn hiệu là Từ Dụ hoàng thái hậu hay Nghi Thiên Thái hoàng thái hậu hoặc Từ Dụ Bác Huệ Khang Thọ Thái thái hoàng thái hậu. Hậu vốn là chính thất nguyên phối Quý phi của Thiệu Trị Đế, Thân mẫu Tự Đức Đế, Đích mẫu Hiệp Hòa Đế.

Hậu nổi tiếng là một người đức hạnh, xuất thân cao quý, biết yêu quý dân chúng và giỏi nuôi dạy con cháu. Bà tại vị như một bà hoàng đức cao vọng trọng với quyền uy bậc nhất của triều đình Huế trong vòng 55 năm, từ lúc bà trở thành Hoàng thái hậu dưới thời Tự Đức Đế vào năm 1847, cho đến khi băng thệ vào năm 1902 dưới thời Thành Thái Đế.

Hậu có tên húy là Hằng (姮), tên tự là Nguyệt (月),Thường (嫦) hoặc Hào (浩)[1], sinh vào ngày 19 tháng 5 năm Canh Ngọ (1810), xuất thân từ dòng họ Phạm Đăng thị tại giồng Sơn Quy, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định, trưởng nữ Lễ bộ thượng thư Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng, mẫu thân là Đức Quốc phu nhân Phạm thị.

Năm 14 tuổi, Nhân Tuyên Hoàng Thái hậu nghe tiếng hiền, tuyển bà làm Phủ thiếp cho Hoàng trưởng tử Miên Tông, đích tôn Gia Long Đế. Bà là người có đức trang kính, giữ nết thuận tòng, được Nhân Tuyên Hoàng thái hậu và Minh Mạng Đế yêu mến.

Năm 15 tuổi, bà sinh con gái đầu lòng là Diên Phúc công chúa Nguyễn Phúc Tĩnh Hảo. Năm sau, bà lại sinh Hoàng nữ thứ hai là Nguyễn Phúc Uyên Ý. Công chúa Uyên Ý sinh ra năm Minh Mạng thứ 7, nhưng 3 tuổi lại chết non. Ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1829), Hậu sinh người con thứ ba là trai, đặt tên là Nguyễn Phúc Thì, sau đổi tên thành Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, tức Tự Đức Đế.

Năm 1841, Thiệu Trị Đế lên ngôi, thứ bậc nội cung chưa định, bà và những thị thiếp khác chỉ được gọi chung là Cung tần. Tới năm 1842, nhân có việc bang giao, Hoàng đế ngự giá Bắc tuần, bà được sung theo hầu. Khi ấy Cung tần theo hầu rất ít, bà ngày đêm hầu hạ bên cạnh, phàm những ấn báu, vật làm tin, đều giao cho giữ cả. Bà là người đoan trang, nhàn nhã, nghiêm túc, cử chỉ độ lượng, lại thường khuyên răn các cung nhân chăm công việc nên được sung chức Thượng nghi, đồng thời nhiếp quản coi sóc Lục thượng.

Tháng 4 năm 1843, bà được phong Nhị giai Thành phi, đứng đầu các tước Phi thuộc hàng nhị giai. Tháng 1 năm(1846), bà được phong làm Nhất giai Quý phi, đứng đầu các tước Phi thuộc hàng nhất giai. Vua sai các đại thần Vũ Xuân Cẩn, Tạ Quang Cự dâng kim sách đến tuyên phong. Năm 1847, Thiệu Trị băng hà, Thái tử Hồng Nhậm được chọn nối nghiệp, tức Tự Đức Đế. Lên ngôi, Tự Đức nhiều lần ngỏ ý định tấn tôn cho mẫu thân, nhưng bà nhất định chối từ. Mãi đến ngày 15 tháng 4 năm 1849, nhân dịp khánh thành Gia Thọ cung, bà mới thuận nhận Kim bảo và tôn hiệu là Hoàng Thái hậu, giúp Hoàng đế Tự Đức việc chính sự. Tháng 6 năm Quý Mùi (1883), Tự Đức qua đời, để di chiếu tôn bà làm Từ Dụ Thái hoàng thái hậu. Nhưng vì việc nước lắm rối ren, qua các đời Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, các vị tự quân đều bị phế truất liên tiếp nên đều không kịp tôn phong.

Năm 1885, Hàm Nghi Đế kế vị, ông mới có thể làm lễ tấn tôn cho bà theo di chiếu.

Ngày 3 tháng 6, xe ngựa của Thái hoàng thái hậu dời trở về Khiêm cung, vì cho rằng thành Quảng Trị không hợp làm nơi chốn. Lúc đấy Hàm Nghi vẫn còn chống quân Pháp ở bên ngoài, việc nội chính đều do Thọ Xuân Vương Nguyễn Phúc Miên Định quản lý, gọi là Nhiếp chính vương, nhưng căn bản đều phải thông qua ý chỉ của Tam cung bên trong.

Năm 1887, Đồng Khánh năm thứ 2, hoàng đế tấn tôn mỹ hiệu cho bà là Từ Dụ Bác Huệ Thái hoàng Thái hậu (慈裕博惠太皇太后). Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, nhân dịp mừng bà thọ 80 tuổi, bà được Thành Thái Đế dâng tôn hiệu là Từ Dụ Bác Huệ Khang Thọ Thái thái hoàng thái hậu.

Năm 1902, mùng 5 tháng 4, Thái Thái hoàng thái hậu băng hà, thọ 92 tuổi, được dâng tên thụy là Nghi Thiên Tán Thánh Từ Dụ Bác Huệ Trai Túc Tuệ Đạt Thọ Đức Nhân Công Chương hoàng hậu. Ngày 20 tháng 5 năm đó, triều đình cử hành đại lễ an táng bà gần phía sau bên trái Xương Lăng, và có tên là Xương Thọ Lăng.  Lễ xong, bài vị của bà được thờ ở Biểu Ðức điện trong Xương Lăng, được thờ ở Thế Miếu.

Thánh Tổ Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ thị

Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ thị, húy là Hoa, nguyên phối Minh Mạng Đế, nữ nhi Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi và Phúc Quốc Phu nhân Hoàng thị.

Năm Bính Dần (1806), bà được vào hầu tiềm để Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Đảm, trở thành nguyên phối chính thất của Hoàng tử. Bà là người trinh thuận, hiếu kính, được cha mẹ chồng hết mực yêu quý. Gia Long Đế cho rằng tên cũ của bà chỉ là hương thơm làm nghĩa, sao bằng chữ mới có nghĩa là gồm cả quả phúc, tức là Thực (實).  Một năm sau, vào ngày 16 tháng 6, Hậu sinh ra Hoàng tử trưởng là Nguyễn Phúc Miên Tông, rồi 13 ngày sau bị bệnh hậu sản mà mất, khi chỉ mới 17 tuổi. Lăng táng ở núi Cư Chính, huyện Hương Thủy.

Minh Mạng năm thứ 2 (1821), mùa hạ, tháng 6, sách tặng bà làm Thuận Đức chiêu nghi. Năm thứ 7, truy tôn cha bà làm Nghiêm Vũ Tướng quân Thượng hộ quân Đô Thống, Hoàng phu nhân nhận tước Nhị phẩm phu nhân. Năm thứ 17, tặng bà lên hàng Thần phi. Sai Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Phan Hữu Tâm sung làm Chánh sứ; Thượng thư bộ Lễ là Phan Huy Thức sung làm Phó sứ, cầm tờ tiết, bưng sách vàng kính đến từ đường làm lễ truy phong. Năm thứ 19, mùa đông tháng 10, lại cho xây đền ở xã Vạn Xuân, bờ bên tây sông Hữu hộ thành rồi cho rước linh cữu về đấy.

Thiệu Trị nguyên niên (1821), tháng 4, ngày 16 là ngày Canh Tý, dâng tôn thụy là Tá Thiên Lệ Thánh Đoan Chính Cung Hòa Đốc Khánh Từ Huy Minh Hiền Thuận Đức Nhân hoàng hậu (佐天儷聖端正恭和篤慶慈徽明賢順德仁皇后). Sau đưa thần chủ hợp táng ở Xương Lăng (昌陵), lăng bà gọi là Hiếu Đông lăng (孝東陵), thờ tại điện Sùng Ân cùng Thánh Tổ Nhân Hoàng đế.

Phụ thân được truy phong Đặc Tiến Tráng Vũ tướng quân Tả quân đô thống phủ Đô Thống, chức Thái Bảo, tước hiệu Phúc Quốc công, thụy là Trung Dũng. Hoàng phu nhân nhận tước Nhất phẩm Phúc Quốc phu nhân, thụy là Ý Thuận (懿順), dựng đền thờ riêng ở xã Xuân Hòa, Hương Trà, lại cho dựng từ đường riêng ở quê nhà, đều gọi là Hồ tộc từ đường.

Thế Tổ Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Tống Phúc thị

Thừa Thiên Cao Hoàng hậu có tên húy là Lan, có tên tự là Liên, sinh vào năm Tân Tỵ (1761) thuộc dòng họ Tống Phúc thị danh giá ở Tống Sơn, Thanh Hóa, nữ nhi Quý Quốc công Tống Phúc Khuông, mẹ là Quý Quốc phu nhân Lê thị.

Bà là người đoan chính, xinh đẹp, hiền từ, khi còn trẻ bà đã được Gia Long đích thân đem lễ vật đến hỏi cưới bà. Lênh đênh theo vua từ lúc gian khó, có khi lại thúc trống giúp cứu Gia Long trong cơn nguy khốn. Khi Gia Long đi xa, bà vẫn giữ vật tin, một lòng một dạ đi theo ông.

Khi Phú Xuân bị quân chúa Trịnh đánh chiếm vào năm Giáp Ngọ (1774), Hậu theo phụ thân vào Nam đến ở Gia Định. Năm Mậu Tuất (1778), Hậu được 18 tuổi, tiến cung rồi tấn phong làm Nguyên phi, rất được Gia Long sủng ái.

Năm Quý Mão (1783) quân Tây Sơn đánh Gia Định, Gia Long phải lánh ra Phú Quốc, được người Xiêm La đem thuyền đến đón. Trước khi sang Xiêm, Thế Tổ cho Hoàng tử Cảnh qua Pháp cầu viện. Ngài lại đem ra một dật vàng giao cho bà một nửa mà bảo rằng: “Con chúng ta đi rồi, ta cũng sẽ đi đây. Phi ở lại phụng thờ quốc mẫu, chưa biết sau này sẽ gặp nhau ở đâu và lúc nào, Phi cất vàng này làm của tin”.

Bà là người thân hậu, cần kiệm, biết thương yêu tất cả mọi người. Bà từ khi gặp lại Gia Long từ Xiêm về, luôn ở bên vua kể cả trên chiến trường, tựa như nàng Ngu Cơ luôn ở bên Hạng Vũ đời Hán vậy.

Năm Gia Long thứ 2 (1803), bà được lập làm Vương hậu. Đến năm Bính Dần (1806), sách phong Hoàng hậu.

Lúc Hoàng tử Đảm (tức Minh Mạng Đế sau này) lên 3 tuổi, Gia Long sai vào cung của Hoàng hậu để làm con. Hậu đòi phải có khế khoán, vua sai Tả quân Lê Văn Duyệt viết một tờ đưa cho, Hậu sai đưa cung nữ cất giữ cẩn thận. Từ đấy Hoàng tử Đảm hay vào cung hầu hạ cho Hoàng hậu, Hậu yêu quý hoàng tử như con ruột. Năm 1801, Anh Duệ thái tử Nguyễn Phúc Cảnh, con của Hoàng hậu qua đời, Hậu chỉ còn hoàng tử Đảm bên mình.

Ngày 22 tháng 2 năm 1814, Hoàng hậu băng thệ, thọ 53 tuổi, quan tài để ở điện Khôn Nguyên. Qua năm sau Hậu được an táng tại Thiên Thọ Lăng ở Huế. Được ban thụy hiệu là Giản Cung Tề Hiến Đức Chính Thuận Nguyên hoàng hậu, bấy giờ đều gọi bà là Thuận Nguyên hoàng hậu. Về sau khi Gia Long qua đời, huyệt phần của ông ngay bên cạnh bà, khác với các Hoàng hậu khác đều có lăng riêng trong quần thể, Thuận Nguyên hoàng hậu được an táng ngay kế bên Gia Long.

Tháng 6 năm Canh Thìn (1820), tôn thụy là Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dục Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu. Năm Nhâm Ngọ (1822), thần chủ của bà được rước vào thờ ở Thế Miếu, ở bên tả thần chủ của Thế Tổ. Bà còn được thờ ở điện Phụng Tiên trong Hoàng thành và điện Minh Thành ở Thiên Thọ Lăng.

Về thỏi vàng năm xưa, Hoàng hậu luôn giữ bên mình từ khi Gia Long lên đường đi Xiêm. Sau khi lên ngôi, ông hỏi bà về nửa thoi vàng năm xưa, bà đưa ra và Gia Long mừng rỡ nói: “Vàng này còn giữ được, đó thật là ân trời đã giúp trong lúc nguy nan, chẳng nên quên lãng. Vậy phải để dành về sau cho con cháu biết.” rồi lấy nửa thoi còn lại ráp thành hoàn chỉnh rồi giao hết cho bà. Hoàng hậu truyền lại cho Minh Mạng. Về sau, Minh Mạng sai khắc chữ Thế Tổ Đế Hậu Quý Mão bá thiên thời tín vật, rồi đưa vào để ở điện Phụng Tiên.

[Hậu cung phân vị] Tiệp dư

Tiệp dư (婕妤) xuất hiện đầu tiên vào đầu thời Hán Vũ Đế, đứng đầu phi tần, chỉ sau Hoàng hậu, với ý nghĩa “Tiệp, ngôn tiếp hạnh vụ thượng dã. Dư, mĩ xưng dã.”

Thời Hán Chiêu Đế, Thượng Quan thị nhập cung sơ phong Tiệp dư, lũy tiến Hoàng hậu. Về sau, khi tước vị Chiêu nghi được thành lập, Tiệp dư trở thành vị trí đứng sau Chiêu nghi.

Thời nhà Đường và nhà Tống, Tiệp dư mang hàm Chính tam phẩm. Sang thời nhà Minh và nhà Thanh, tước vị này chính thức bị hủy bỏ.

Ở Việt Nam, Tiệp dư có từ thời Lê sơ, sinh mẫu Lê Thánh Tông Ngô thị vốn là Lê Thái Tông Tiệp dư. Sau khi Thánh Tông đăng cơ, đã thiết lập lại phân vị hậu cung, Tiệp dư đứng đầu hàng Lục chức, trên các phẩm Dung hoa, Tuyên vinh, Tài nhân, Lương nhân, Mỹ nhân. Vào thời nhà Nguyễn, Tiệp dư đứng hành tứ 6 trong 9 bậc cung giai, gọi là Lục giai Tiệp dư.

Lý Huệ Tông Thuận Trinh Hoàng hậu Trần thị

Thuận Trinh Hoàng hậu Trần thị, thứ nữ Trần Lý, em gái Trần Thừa và Trần Tự Khánh, sinh mẫu Lý Chiêu Hoàng và Hiến Từ Thuận Thiên Hoàng hậu. Bà cùng biểu đệ là Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ đồng mưu trong việc soán ngôi nhà Lý, nhượng ngôi cho cháu trai là Trần Thái Tông, lập ra nhà Trần. Con gái bà là Chiêu Hoàng được sắc lập làm Hoàng hậu, trở thành Hoàng hậu thứ nhất của Thái Tông. Sau khi nhà Trần được thiết lập, bà được tôn phong làm Thiên Cực công chúa, biệt hiệu Quốc mẫu, được hưởng quy chế ngựa xe nghi trượng ngang hàng với Hoàng hậu. Khi đó, bà tái hôn với Trần Thủ Độ, lúc này đang giữ chức Thái sư, nắm trọn quyền hành. Trong vai trò giành được Hoàng vị của họ Trần, bà cùng Trần Thủ Độ có vai trò to lớn nhất.

Năm 1211, sơ phong Nguyên phi. Tháng 7 năm 1211, giáng làm Ngự nữ. Năm 1216, thăng làm Thuận Trinh phu nhân, tháng Chạp, sắc phong Hoàng hậu. Năm 1219, Hậu băng, thụy là Linh Từ Quốc mẫu.

Cuộc đời Linh Từ Quốc mẫu gắn chặt với sự chuyển đổi quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần. Bà nhiều lần thay ngôi đổi vị, do sự biến đổi của thời thế. Kết hôn và tác động tới Huệ Tông, từ thái hậu xuống làm công chúa, lấy người trong họ tộc, tái giá với kẻ sát hại phu quân, cùng sắp đặt để trưởng nữ lấy muội phu, hoà giải 2 cháu là hiền tế… Những việc làm của bà trước sau đều vì sự tồn tại và phát triển cơ nghiệp của họ Trần.

Trần Minh Tông Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu Trần Thị

Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu Trần thị, nữ nhi Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn, được thụ phong Huy Thánh công chúa, Trần Nhân Tông nội tổ khảo, Trần Anh Tông bá phụ, Trần Minh Tông biểu muội. Trong cung đình nhà Trần, Hậu nổi tiếng với gia thế hiển hách và lòng nhân hậu, được xếp vào hàng Nữ trung Nghiêu Thuấn.

Năm Hưng Long thứ 19, bà kết hôn cùng Uy Túc công Trần Văn Bích nhưng đến năm Đại Khánh thứ 10 (1323), bà được sách phong làm Lệ Thánh Hoàng hậu của Trần Minh Tông.

Năm Khai Thái thứ 5 (1328), xảy ra vụ án cha bà là Huệ Vũ vương Quốc Chẩn bị kết tội mưu phản, bị buộc tự sát. Nguyên do Lệ Thánh hoàng hậu kết hôn với Minh Tông đã lâu mà vẫn chưa sinh hạ Hoàng tử kế thừa đại thống. Sốt ruột khi ngôi vị Trữ quân để trống quá lâu, Trần Minh Tông muốn lập Hoàng tửTrần Vượng, con của Anh Tư phu nhân đang đắc sủng làm Thái tử, nhưng Huệ Vũ vương Quốc Chẩn can ngăn. Vì từ trước đến nay, các Hoàng đế nhà Trần đều sinh ra từ các Hoàng hậu có dòng máu trong nội tộc. Tuy Minh Tông không phải con ruột của Bảo Từ Hoàng thái hậu, nhưng sinh mẫu là Chiêu Từ Hoàng thái hậu, nữ nhi Trần Bình Trọng và Thụy Bảo công chúa, nữ nhi Trần Thái Tông, nên huyết thống vẫn còn. Nay Anh Tư phu nhân vốn là con gái quan viên cấp thấp họ Lê, người Giáp Sơn, Thanh Hóa, dòng máu hoàn toàn khác xa hoàng tộc nên không thể lấy con của phu nhân làm Thái tử, dù đó là con trưởng của Minh Tông. Huệ Vũ Vương can ngăn quyết liệt, Minh Tông cũng đành để yên chuyện mà thôi ý định nhưng trong lòng đã sớm buồn bực Huệ Vũ Vương. Lợi dụng hoàn cảnh éo le đó, Cương Đông Văn Hiến Hầu, là con của Tá thánh Trần Nhật Duật muốn đánh đổ Lệ Thánh hoàng hậu để lập Hoàng tử Vượng, mới đem của đút cho gia thần của Huệ Vũ vương là Trần Nhạc 100 lạng vàng bảo Trần Nhạc vu cáo cho Huệ Vũ có âm mưu làm phản. Minh Tông cả tin cho là thật liền ra lệnh bắt giam ngay Huệ Vũ vương vào chùa Tự Phúc ở kinh sư rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung vốn là người Giáp Sơn, cùng quê với Anh Tư phu nhân nên sớm có ý thông đồng, xúi giục Minh Tông xử tử Huệ Vũ vương. Minh Tông truyền bắt Huệ Vũ vương phải tuyệt thực. Lệ Thánh hoàng hậu lúc đó khi vào thăm cha đã lấy áo nhúng nước mặc vào người rồi vắt ra cho cha uống. Trong khi đó, Anh Tư phu nhân muốn cho Huệ Vũ vương chết sớm để con mình được lập làm Thái tử, liền cho người mang nước tẩm độc cho Huệ Vũ vương uống, uống xong thì chết. Cuối năm đó, Minh Tông lập Hoàng tử Trần Vượng làm Thái tử.

Năm Kỷ Tị, Khai Thái năm thứ 6 (1329), ngày 7 tháng 2 âm lịch, Minh Tông lập Trần Vượng làm Hoàng thái tử. Sang ngày 15 tháng 2 thì chính thức nhường ngôi, Thái tử Vượng lên ngôi, là Trần Hiến Tông, Lệ Thánh hoàng hậu được tôn là Lệ Thánh Thái thượng hoàng hậu.

Năm Khai Hựu thứ 13 (1341), tháng 6, Trần Hiến Tông làm Hoàng đế được 13 năm thì qua đời, không có con cái. Lúc này, Lệ Thánh hoàng hậu đã sinh ra Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, Thiên Ninh công chúa Trần Ngọc Tha và Hoàng tử Trần Hạo. Cung Túc vương Nguyên Dục theo vai vế dĩ nhiên sẽ trở thành người kế vị, nhưng lấy lý do “là người ngông cuồng”, Minh Tông không vừa ý, còn Trần Hạo tuy chỉ mới 6 tuổi nhưng lại thông minh nhanh nhẹn, nên Minh Tông chọn làm Hoàng đế kế vị, tức Trần Dụ Tông,

Năm Thiệu Phong thứ 17 (1357), Thượng hoàng Minh Tông qua đời. Khi Minh Tông mất, bà muốn đi tu, nhưng nghe theo lời dặn cuối của Minh Tông “Sau khi ta mất, người ở lại cung Thánh Từ, đừng vào núi đi tu” nên không thụ giới nhà Phật.

Ngày 8 tháng 9 năm đó, bà được tôn làm Tuyên Thánh hoàng thái hậu. Ở cương vị Thái hậu, bà đã cố gắng kiềm chế bản tính xa hoa, bộc trực của Dụ Tông. Có người đã xàm tấu với ông rằng Thái úy Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác đã yểm bùa hại ông. Dụ Tông chút nữa là sát hại Nguyên Trác, nhưng Thái hậu đã can ngăn.

Năm Đại Trị thứ 12 (1369), tháng 5, Dụ Tông băng, không có con nối dõi. Ngày 15 tháng 6, Tuyên Thánh Thái hậu ra chỉ đón Nhật Lễ, con trai Cung Túc Vương Dục vào cung theo di chiếu.  Sau khi lên nối đại thống, Nhật Lễ tôn bà làm Tuyên Thánh Thái hoàng thái hậu.  Ngày 14 tháng 12, Tuyên Thánh Thái hoàng thái hậu đột ngột băng hà. Các sử gia suy đoán là do Trần Nhật Lễ giết do Thái hậu biết Nhật Lễ không phải con của cố Cung Túc vương Nguyên Dục.

Trần Anh Tông Bảo Từ Thuận Thánh Hoàng hậu Trần thị

Bảo Từ Thuận Thánh Hoàng hậu Trần thị, thứ nữ Thái úy Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng và Bảo Ân Quốc mẫu, Hậu xuất thân vốn dòng dõi hoàng tộc nhà Trần.

Năm Trùng Hưng thứ 8 (1292), ngày 3 tháng 2, chị gái của Hậu được phong làm Hoàng Thái tử phi, là Chính phi, nguyên phối của Hoàng thái tử Trần Thuyên, tức Anh Tông Hoàng đế.

Năm Trùng Hưng thứ 9 (1293), ngày 9 tháng 3, Anh Tông Hoàng đế kế vị, sách lập Hoàng thái tử phi Trần thị làm Văn Đức Phu nhân, nhưng ít lâu sau lại phế đi. Hậu được sách phong Thánh Tư Phu nhân, thay thế người chị.

Năm Hưng Long thứ 17 (1309), phu nhân được sách phong làm Hoàng hậu. Bấy giờ, Hoàng hậu chỉ sinh được Thiên Chân công chúa, trước đó sinh 3 được Hoàng tử nhưng đều mất ngay khi sinh. Anh Tông đành lập Hoàng tử Trần Mạnh làm Hoàng thái tử, tức Minh Tông hoàng đế. Sinh mẫu Thái tử là Huy Tư Hoàng phi Trần thị, nữ nhi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng và Thụy Bảo công chúa, vốn rất được Anh Tông và Hậu yêu mến. Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép về Hậu, vốn là người nhân nghĩa, thương yêu mọi người, hòa hiếu với hậu cung, chăm nom các con của Anh Tông dù không phải là con ruột của Hậu.

Năm Hưng Long thứ 22 (1314), ngày 18 tháng 3, Anh Tông thiện nhượng làm Thái thượng hoàng, Hậu được Minh Tông hoàng đế tôn làm Thuận Thánh Thái thượng hoàng hậu.

Năm Đại Khánh thứ 8 (1322), sau khi Anh Tông Hoàng đế băng hà được 1 năm, Minh Tông Hoàng đế tôn làm đích mẫu làm Thuận Thánh Hoàng thái hậu , sinh mẫu Huy Tư Hoàng phi được tôn làm Huy Tư Hoàng thái phi (徽思皇太妃). Sau khi Anh Tông băng, Thái hậu theo rước linh cữu về Yên Sinh, ăn chay niệm Phật cầu nguyện cho Tiên đế.

Năm Khai Hựu thứ 2 (1330), tháng 7, Hoàng thái hậu băng ở am Mộc Cảo, ấp Yên Sinh. Ngày 15 tháng 2, năm 1332, Bảo Từ Hoàng thái hậu được chôn ở Thái lăng, hợp táng cùng Anh Tông Hoàng đế.

Trần Thái Tông Hiến Từ Thuận Thiên Hoàng hậu Lý thị

Hiến Từ Thuận Thiên Hoàng hậu Lý thị, húy là Oanh, trưởng nữ Lý Huệ Tông và Thuận Trinh Hoàng hậu Trần thị, có hoàng muội là Chiêu Thánh Hoàng hậu  – Vị hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Lý và là nguyên phối Trần Thái Tông – Vị vua đầu tiên của triều Trần

Hậu sinh năm 1216 khi Thuận Trinh Hoàng hậu còn là Thuận Trinh phu nhân, Hậu có phong hiệu là Thuận Thiên công chúa. Sau Hậu trở thành nguyên phối Phụng Càn Vương Trần Liễu, huynh trưởng Trần Thái Tông. Khi Hậu có thai 3 tháng, Thái sư Trần Thủ Độ và vợ Linh Từ Quốc mẫu (Thuận Trinh Hoàng hậu) ngầm lập Hậu trở thành hoàng hậu của Trần Thái Tông, phế muội của bà là Chiêu Thánh hoàng hậu trở thành Chiêu Thánh công chúa.

Năm 1248, Hậu băng, thọ 32 tuổi, truy phong Hiến Từ Thuận Thiên hoàng hậu.

Hậu có với Khâm Minh Đại vương Trần Liễu 2 người con là Vũ Thành Vương Trần Doãn, và Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang (danh là của Thái Tông nhưng thực là của Trần Liễu)

Các con của Hậu và Thái Tông đế bao gồm Hoàng đích trưởng tử Trần Hoảng (tức Trần Thánh Tông) và Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải.

Trần Thái Tông Chiêu Thánh Phế Hoàng hậu Lý thị

Chiêu Thánh Phế hoàng hậu Lý thị, trước húy Phật Kim, sau húy Thiên Hinh, thứ nữ Lý Huệ Tông Đế và Thuận Trinh Hoàng hậu Trần thị. Khi Huệ Tông Đế không có con trai nối, lập làm Trữ quân để truyền ngôi, ở ngôi được 2 năm 1224- 1225 rồi nhường ngôi cho họ Trần.

Mẹ là Linh Từ quốc mẫu Trần thị, thứ nữ Nguyên Tổ nhà Trần là Trần Lý. Đế sinh vào tháng 9 năm Mậu Dần (1218) tại kinh đô Thăng Long, Đại Việt, tước hiệu là Chiêu Thánh công chúa

Năm Giáp Thân, Kiến Gia năm thứ 14 (1224), tháng 10, Lý Huệ Tông không có con trai, Đế phải lập Chiêu Thánh công chúa làm Trữ quân, rồi truyền ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo, với tôn hiệu là Chiêu Hoàng.

Năm Ất Dậu (1225), ngày 21 tháng 10 (tức ngày 22 tháng 11), Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh. Ngày 11 tháng 12 năm ấy (tức 10 tháng 1 năm 1226), Chiêu Hoàng bỏ hoàng bào mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế ở điện Thiên An, dựng lên nhà Trần, sử gọi là Trần Thái Tông. Sau khi nhường ngôi, Lý Chiêu Hoàng được phong làm Hoàng hậu, trở thành vị Hoàng hậu trẻ tuổi nhất trong lịch sử, vì khi đó bà mới 7 tuổi.

Năm Quý Tỵ, Thiên Ứng Chính Bình thứ 2 (1233), Hậu hạ sinh ra Thái tử Trần Trịnh, nhưng Thái tử chết ngay sau khi sinh không lâu.

Năm Đinh Dậu, Thiên Ứng Chính Bình thứ 6 (1237), Thái sư Trần Thủ Độ cùng Thiên Cực công chúa lo sợ huyết thống hoàng gia bị đứt đoạn, nên ép Thái Tông phải bỏ Hậu để lấy chị dâu là Thuận Thiên công chúa đang có thai 3 tháng, giáng Hậu trở thành Chiêu Thánh công chúa.

Năm Mậu Ngọ, Nguyên Phong năm thứ 8 (1258), sau cuộc chiến với quân đội Mông Cổ vào năm 1258, Trần Thái Tông gả Chiêu Thánh công chúa cho Ngự sử đại phu Lê Phụ Trần, một thuộc tướng dòng dõi của Lê Đại Hành.Chiêu Thánh công chúa sống với Lê Phụ Trần được 20 năm, sinh ra con trai là Thượng vị hầu Lê Tông, con gái là Ứng Thụy công chúa Lê Ngọc Khuê.

Đầu năm Mậu Dần, niên hiệu Bảo Phù thứ 6 (1278), tháng 3, Chiêu Thánh công chúa qua đời, thọ 61 tuổi. Bà qua đời sau gần 1 năm tròn so với Trần Thái Tông (qua đời năm 1277).

Sách Việt sử tiêu án có chép lại thuyết dân gian rằng bà đã nhảy hồ tự sát. Nguyên văn: “Bà Chiêu Thánh mất. Bà đã bị giáng là Công chúa, rồi gả cho Phụ Trần, khi ấy mất đã 61 tuổi. Hiện nay ở tỉnh Bắc Giang, có đầm Minh Châu, giữa đầm có phiến đá to, người ta truyền lại rằng: Bà Chiêu Thánhcắp hòn đá nhảy xuống đầm mà chết, trên bờ đầm có miếu Chiêu Hoàng. Đó là thổ dân nơi đó bênh vực hồi mộ cho bà Chiêu Hoàng mà đặt ra thuyết ấy.”

Trần Nhân Tông Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu

Thân phận của Khâm Từ Thái hậu rất cao quý: đích xuất, trưởng nữ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Hưng Đạo và Thiên Thành Trưởng công chúa, lại là cháu nội của An Sinh vương, con trưởng của Thái Tổ hoàng đế. Bên cạnh đó, Thái Tổ hoàng đế cũng chính là ngoại tổ phụ của bà, khi Thiên Thành Trưởng công chúa là con gái Thái Tổ. Thân phận cứ như vậy tôn quý, Khâm Từ từ thời trẻ đã định sẵng vị trí Quốc mẫu, làm Thái tử phi rồi Hoàng hậu.

Năm Thiên Bảo thứ 1 (1279), ngày đầu của tháng Giêng, Nhân Tông hoàng đế kế vị, Thái tử phi được lập làm Hoàng hậu. Hậu có tính nhu mì, thông minh sáng suốt, có nhân đối với kẻ dưới, được Nhân Tông hoàng đế yêu mến.

Năm Trùng Hưng thứ 9 (1293), ngày 9 tháng 3, Nhân Tông hoàng đế nhượng vị làm Thái thượng hoàng, Hậu được tôn làm Bảo Thánh hoàng thái hậu (保聖皇太后). Ngày 13 tháng 9 năm ấy, Thái hậu băng ở Lỗ Giang, phủ Long Hưng, tạm quàn ở hành cung Long Hưng. Năm Hưng Long thứ 18 (1310), ngày 16 tháng 9, Hậu được an táng cùng Nhân Tông hoàng đế ở Đức lăng, phủ Long Hưng.

Về công trạng của bà, Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “…Thượng hoàng (chỉ Trần Nhân Tông) thường làm chuồng hổ ở thềm Vọng Lâu, sai quân sĩ đánh nhau với hổ, thượng hoàng ngự trên lầu để xem, thái hậu (ý nói Bảo Thánh hoàng hậu) và phi tần đều theo hầu. Vì lầu thấp, song chuồng và thềm cũng thấp, con hổ chợt nhảy ra khỏi chuồng leo lên lầu, những người trên lầu đều chạy toan cả, duy chỉ có thượng hoàng và thái hậu cùng 4, 5 người thị nữ vẫn ở đấy. Thái hậu nghĩ bụng không khỏi bị hại, mới lấy chiếu che cho thượng hoàng và cả mình. Con hổ lên lầu rồi kêu gầm lên mà nhảy xuống, không hại ai cả.”

Vào một lần khác, Nhân Tông đang ngự tại điện Thiên An, xem đấu voi ở Long Trì. Con voi bỗng nhiên sổng thoát định xông lên điện tới nơi vua ngồi, khiến tả hữu sợ chạy tán loạn, chỉ có Hậu không dao động, bình tĩnh đối phó với thú dữ, bảo vệ nhà vua.

[Hậu cung phân vị] Trưởng công chúa

[Trưởng công chúa; 長公主]

Đây là danh vị hoàng thất ở Trung Quốc và Việt Nam, từ sau Đông Hán trở đi chuyên dành cho các Hoàng nữ là chị em gái của đương kim Hoàng đế.

Danh hiệu Trưởng công chúa lần đầu xuất hiện khi Hán Văn Đế Lưu Hằng phong cho con gái cả Lưu Phiếu làm Trưởng công chúa, ban thực ấp ở huyện Quán Đào thế nên có danh xưng Quán Đào công chúaHậu Hán thư·Hoàng hậu kỷ viết: “Hán chế, Hoàng nữ toàn phong Huyện công chúa, nghi phục đều như Liệt hầu. Những người được tôn sùng, gia hiệu Trưởng công chúa, nghi phục đều như Phiên vương”

Những năm cuối Đông Hán, học giả Thái Ung khi chú 《Sử ký·Vũ Đế bản kỷ》 viết:”Đế nữ viết Công chúa, nghi lễ như Liệt hầu. Tỷ muội viết Trưởng công chúa, nghi lễ như Chư hầu Vương”

Thời Tây Hán, danh vị “Trưởng công chúa” đích thực là dành cho con gái trưởng của Hoàng đế, tuy nhiên không phải tùy tiện, chỉ duy nhất Đích trưởng nữ mới gọi là Trưởng công chúa. Người đầu tiên có danh vị này là Lưu Phiếu, con gái duy nhất của Hiếu Văn Đậu hoàng hậu, bà cũng là chị cả của Hán Cảnh Đế và là mẹ của Hoàng hậu Trần A Kiều nổi tiếng trong lịch sử. Tiếp theo đó, Hán Vũ Đế phong con gái của chính mình Đương Lợi công chúa làm Vệ Trưởng công chúa, bên cạnh đó ông cũng phong cho chị cả Dương Tín công chúa làm Bình Dương Trưởng công chúa, hay Hán Chiêu Đế phong chị cả Ngạc Ấp công chúa làm Cái Trưởng công chúa.

Lúc này chế độ có phần tùy ý Hoàng đế, miễn người được phong là chị cả, là lớn nhất, rất sát với danh xưng “Trưởng công chúa” vậy. Bởi vì Tây Hán lễ nghi chế độ vẫn ở vào thời điểm phát triển, nên so với thời Đông Hán, dựa theo chú giải của Thái Ung, vẫn còn rất nhiều điểm bất đồng.

Đến tận đời đầu Đông Hán, Quang Vũ hoàng đế phong con gái cả Lưu Nghĩa Vương làm Vũ Dương Trưởng công chúa, chế độ đều như Tây Hán, vẫn chưa biến đổi. Ước chừng thẳng đến Đông Hán mạt kỳ, “Hoàng đế tỷ muội phong hào là Trưởng công chúa” mới trở thành quy chế như Thái Ung ghi chú.

Những triều đại về sau, Trưởng công chúa cũng trở thành danh hiệu cố định dành riêng cho chị em gái trực hệ của Hoàng đế. Một vài trường hợp như Thái Bình công chúa không bao giờ gọi là “Thái Bình trưởng công chúa”, nhưng thực tế danh hiệu của bà, Trần Quốc Thái Bình Trưởng công chúa, đã vượt hơn một Trưởng công chúa rất rất nhiều rồi.

Lịch sử Việt Nam có thể kế đến Thiên Ninh công chúa, con gái Trần Minh Tông và Hiến Từ Thái hậu, được Trần Nghệ Tông hoạch phong Lạng Quốc Thái Trưởng công chúa.

[Hậu cung phân vị] Chiêu nghi

[Chiêu nghi; 昭儀]

Danh vị này được lập ra lần đầu tiên dưới thời Hán Nguyên Đế Lưu Thích, phong cho sủng phi Phó thị, người sinh ra Định Đào Cung vương Lưu Khang.

Giải thích tước vị này, Hiếu Nguyên hoàng đế ghi rằng “Chiêu kì nghi” (昭其儀), trong đó “Chiêu” là ánh sáng, mang tính sáng sủa, “Nghi” là dáng vẻ đường hoàng, còn “kì” là trợ từ, thường mang nghĩa là sẽ, dẫn đến…. Nếu ý nghĩa của nó thật sự theo diễn giải này, thì tạm dịch danh hiệu này có nghĩa là “Có sáng sủa, tất dáng vẻ sẽ uy nghiêm”. Theo thiện đãi của nhà Hán, tước vị Chiêu nghi có bổng lộc ngang với Thừa tướng, địa vị ngang với Chư hầu Vương, do vậy có thể nói chỉ dưới một vị Hoàng hậu mà thôi.

Thời nhà Tấn do kiêng húy Tư Mã Chiêu mà không lập tước vị này. Từ thời Ngũ Hồ thập lục quốc mới đặt lại. Bắc Ngụy hậu cung thiết Tả chiêu nghi (左昭仪) và Hữu chiêu nghi (右昭仪), chỉ sau Hoàng hậu.

Thời nhà Đường, tước Chiêu nghi đặt dưới Hoàng hậu cùng 4 tước phi là Quý phi, Thục phi, Đức phi, Hiền phi; tước vị Chiêu nghi đứng đầu hàng Cửu tần (bao gồm: Chiêu nghi, Chiêu dung, Chiêu viên, Tu nghi, Tu dung, Tu viên, Sung nghi, Sung dung, Sung viên). Võ Tắc Thiên từng là Chiêu nghi, trước khi được Đường Cao Tông phong Hậu. Sang thời nhà Minh, tước vị này bị xếp dưới bậc Tần, và đến thời nhà Thanh chính thức bị bãi bỏ.

Ở Việt Nam, danh hiệu Chiêu nghi đường hoàng xuất hiện là vị Thái phi, có công dưỡng dục Lê Thái Tông nên mới tấn tôn Hoàng thái phi. Nhưng người đầu tiên được đề cập đến cụ thể lại là cung tần của Lê Thái Tông tên rằng Lê Nhật Lệ, nữ nhi đại thần Lê Ngân, sau đó là Dương Thị Bí, sinh mẫu Lệ Đức hầu Lê Nghi Dân. Thời Lê sơ, Chiêu nghi thuộc Cửu tần, địa vị chỉ dưới Tam phi (gồm Quý phi, Minh phi, Kính phi).

Tước vị Chiêu nghi được dùng sang tận thời Nguyễn sơ, tuy nhiên lại có vị trí rất thấp. Minh Mạng Đế nguyên phối, sinh mẫu Thiệu Trị Đế là Tá Thiên Nhân hoàng hậu từng được truy phong làm Thuận Đức Chiêu nghi, trước khi truy phong Thần phi rồi Hoàng thái hậu.

[Hậu cung phân vị] Tần

[Tần; 嬪]

Đây là một danh vị phi tần có địa vị tương đối trung bình, không cao mà cũng không thấp. Lần đầu tiên, danh vị “Tần” xuất hiện trong điển chế Á Đông là trong Chu lễ, phần kể về hậu cung của các Chu thiên tử, ghi lại: “Cổ giả Thiên tử Hậu lập lục cung, tam Phu nhân, cửu Tần, nhị thập thất Thế phụ, bát thập nhất Ngự thê”.

  • Tần (), 9 người, giáo hóa bốn mỹ đức của bậc quần thoa là phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công.

Sang thời Hán, “Cửu tần” biến mất, nhưng lại bắt đầu có lại vị trí khi Tùy-Đường thiết lập. Vị trí của Tần lúc này dưới Phi nhưng lại trên hàng Ngự thiếp cấp thấp, như Tiệp dư, Quý nhân, Mỹ nhân,…., do vậy có thể nói “Tần” là tước vị bét nhất để được công nhận trong gia đình hoàng tộc.

Tước vị Chiêu nghi của thời Hán, sang thời Đường xếp vào một trong 9 bậc Tần, và về sau Tống triều cũng dùng 9 danh hiệu khác nhau để nói về Tần, nên còn gọi là [Cửu tần; 九嬪]. Sang thời Minh-Thanh, “Tần” tách ra riêng biệt như Phi, và có phong hào, như An tần (安嫔); Huệ tần (惠嬪);… từ đó cũng thành mô phạm cho Triều Tiên Lý thị, và sau này là nhà Nguyễn. Theo Thanh sử cảo, nhà Thanh lấy danh vị Tần 6 người, hàm chính tứ phẩm, xưng gọi “nương nương” và làm chủ một cung trong nội đình.

Ở Triều Tiên, do chỉ xưng Vương, nên đích thê của Triều Tiên vương là Phi, sau khi chết truy tặng Vương hậu. Dưới Phi là Tần, cũng có phong hào, như Hy tần (禧嬪), Thục tần (淑嬪),… được định hàm Chính nhất phẩm. Ngoài ra, “Tần” cũng là đích thê của Vương Thế tử, nhưng tránh gọi trùng thì vị Thế tử tần sẽ gọi là Tần cung. Do Tần cung là Trữ quân hôn phối, hơn nữa Triều Tiên rất trọng đích-thứ phân biệt, trong gia đình vương thất Lý thị, vị trí của Tần cung chỉ dưới Vương phi và trên các vị Tần khác.

Ở Việt Nam, “Cửu tần” xuất hiện lần đầu khi đề cập đến hậu cung của Lê Thánh Tông, gồm 9 bậc danh hiệu khác nhau, hợp xưng “Cửu tần”, đó là: Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛), Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛), Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛).

Chế độ “Cửu tần” sang thời Nguyễn vẫn còn dùng. Thời kì đầu Gia Long và Minh Mạng, Cửu tần là 9 danh vị có sẵng gồm: Quý tần (貴嬪), Hiền tần (賢嬪), Trang tần (莊嬪), Đức tần (德嬪), Thục tần (淑嬪), Huệ tần (惠嬪), Lệ tần (麗嬪), An tần (安嬪), Hòa tần (和嬪); vị trí của Cửu tần kkhâm hi này chỉ dưới Tam phi và Tam tu.

Nội các triều Nguyễn – Khâm Định Đại Nam hội điển sự lễ ghi lại, vào đầu thời Nguyễn, thứ bậc nội cung được quy định: “Lúc quốc sơ định lệ cung giai. Tam phi là Quý phi, Minh phi, Kính phi. Tam tu là Tu nghi, Tu dung, Tu viên. Cửu tần là Quý tần, Hiền tần, Trang tần, Đức tần, Thục tần, Huệ tần, Lệ tần, An tần, Hòa tần. Tam chiêu là Chiêu nghi, Chiêu dung, Chiêu viên. Tam sung là Sung nghi, Sung dung, Sung viên. Lục chức là Tiệp dư, Dung hoa, Nghi nhân, Tài nhân, Linh nhân, Lương nhân.”

Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Thánh Tổ có chỉ dụ định lại thứ bậc ở nội cung: “Nay theo gương cổ nhân, đặt chín bậc phi tần ở nội cung, khiến cho chốn khuê môn trật tự phân minh, phong hóa tôn nghiêm, nối đến muôn đời. Từ hàng nhất giai trở lên thì đặt Hoàng quý phi giúp Hoàng hậu là ngôi chủ quỹ trong cung, cai quản mẫu mực sáu viện, giúp việc nội trị, giữ nghiêm nội chính.”, trong đó  “Tần” trở thành 3 cấp, mỗi cấp 3 người; gồm Tam giai Tần, Tứ giai Tần và Ngũ giai Tần; chỉ từ Tứ giai trở lên theo quy định mới được mặc áo Nhật Bình làm triều phục, còn lại xuống dưới chỉ dùng Áo tấc.

  • Quý tần (貴嬪), Hiền tần (賢嬪), Trang tần (莊嬪) làm hay Tam giai Tần (三階嬪).
  • Đức tần (德嬪), Thục tần (淑嬪), Huệ tần (惠嬪) làm hay Tứ giai Tần (四階嬪).
  • Lệ tần (麗嬪), An tần (安嬪), Hòa tần (和嬪) làm hay Ngũ giai Tần (五階嬪).

Quốc Sử quán ghi lại trong Đại Nam thực lục, tháng 5 năm Thiệu Trị thứ 3, Thiệu Trị Đế định lại thứ tự nội dung, danh vị Tần trở thành:

  • Quý tần (貴嬪), Lương tần (良嬪), Đức tần (德嬪) làm Tam giai Tần (三階嬪).
  • Huy tần (徽嬪), Ý tần (懿嬪), Nhu tần (柔嬪) làm Tứ giai Tần (四階嬪).
  • Nhàn tần (嫻嬪), Nhã tần (雅嬪), Thuận tần (順嬪) làm Ngũ giai Tần (五階嬪).

Tháng 5 năm Tự Đức thứ 3, Dực Tông định lại các danh vị nội dung, bậc Tần trở thành:

  • Khiêm tần (謙嬪), Thận tần (慎嬪), Nhân tần (仁嬪), Thái tần (泰嬪) làm Tam giai Tần (三階嬪).
  • Khoan tần (寬嬪), Giai tần (偕嬪), Tuệ tần (慧嬪), Giản tần (簡嬪) làm Tứ giai Tần (四階嬪).
  • Tĩnh tần (靜嬪), Cẩn tần (謹嬪), Tín tần (信嬪), Uyển tần (婉嬪) làm Ngũ giai Tần (五階嬪)

Vào thời nhà Nguyễn, viện Thuận Huy là nơi ở của danh vị Tần.

[Hậu cung phân vị] Hoàng quý phi

[Hoàng quý phi; 皇貴妃] Đây là một cấp bậc tần phi đặc trưng của nhà Minh và nhà Thanh. Trong các quốc gia đồng văn, có Việt Nam và Triều Tiên từng dùng đến. Là cấp bậc tối cao của một phi tần trong văn hóa đồng văn hậu Minh triều.

Danh vị này bắt đầu khi Minh Đại Tông Chu Kỳ Ngọc sủng ái Đường phi, sách lập làm Hoàng quý phi. Nhưng khi Minh Anh Tông lên ngôi, đã tước bỏ danh hiệu này. Mãi về sau, Minh Hiến Tông sủng ái Vạn Trinh Nhi, đã lập lại danh hiệu Hoàng quý phi. Cũng từ đó, Hoàng quý phi cao hơn Quý phi và Phi, đứng đầu trong hệ thống hậu cung.

Ở thời Minh, Hoàng quý phi không phân biệt số người, như Trang Thuận An Vinh Trinh Tĩnh Hoàng quý phi Thẩm thị cùng Đoan Hòa Cung Thuận Ôn Hi Hoàng quý phi Vương thị đều là đồng bái Hoàng quý phi vào năm Gia Tĩnh thứ 19. Sang thời Thanh, Hoàng quý phi chỉ có 1 người tại vị.

Dù được gọi nôm na vị trí như Thứ hậu, do chỉ ngay dưới danh hiệu Hoàng hậu, thế nhưng tước vị Hoàng quý phi thực tế mà nói vẫn chỉ là tước vị dành cho một phi tần, không thể nói rằng Hoàng quý phi ngang bằng với Hoàng hậu. Việc danh hiệu Hoàng quý phi khá kiêng dè ở thời Thanh cũng do duyên cớ của Đổng Ngạc phi mà thôi.

Nguyên, thời Thuận Trị Đế, Đế sủng ái Đổng Ngạc phi, phong làm Hoàng quý phi, là Hoàng quý phi đầu tiên của triều Thanh, rất được sủng ái. Sau khi qua đời, bà được Thuận Trị Đế truy phong Hiếu Hiến Đoan Kính hoàng hậu, mặc dù Hiếu Huệ Chương hoàng hậu của Thuận Trị Đế vẫn còn sống. Tuy nhiên Đổng Ngạc phi vẫn chỉ là Hoàng quý phi vì danh không chính, ngôn không thuận, và cũng vì Đổng Ngạc phi không được Khang Hi Đế tế bái thăm lăng, điều này dường như vì duyên cớ Đổng Ngạc phi đã làm sỉ nhục địa vị của Hiếu Huệ Chương hoàng hậu. Cũng từ đó, các Hoàng đế nhà Thanh rất ít khi phong Hoàng quý phi lúc Hoàng hậu còn sống.

Thời Càn Long, lần đầu tiên, danh vị Hoàng quý phi được xem ngang hàng với Hoàng hậu, khi Hoàng đế lập Nhàn Quý phi Na Lạp thị làm Hoàng quý phi, nhưng lại tuyên cáo danh hiệu của Hoàng quý phi là [Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi; 摄六宫事皇贵妃]. Theo đó, Na Lạp thị tuy là vị trí Hoàng quý phi, nhưng buổi lễ tấn phong không khác gì Hoàng hậu, làm công bố chiếu cáo thiên hạ, loại đại lễ chỉ dành khi lập Hoàng hậu và Thái tử; ngay cả sinh thần của bà trong khi làm Hoàng quý phi cũng được án theo quy chế Hoàng hậu mà cử hành. Sau khi mãn tang Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu, Hoàng quý phi Na Lạp thị chính thức trở thành Kế Hoàng hậu.

Ở Việt Nam, danh vị Hoàng quý phi tôn quý, được đặt vào thời Minh Mạng, với danh nghĩa Hoàng quý phi suất Nhiếp lục viện. Người đầu tiên dưới thời Nguyễn được phong làm Hoàng quý phi là Lệ Thiên Anh hoàng hậu Vũ thị, nguyên phối của Tự Đức Đế. Tiếp đó là Phụ Thiên Thuần hoàng hậuNguyễn Hữu thị, nguyên phối của Đồng Khánh Đế và cuối cùng là Hoàng đích mẫu Hoàng quý phi Nguyễn Thị Vân Anh, Phế Hoàng quý phi của Thành Thái Phế Đế.

[Hậu cung phân vị] Hoàng hậu

Hoàng hậu (皇后) là chính thê của Hoàng đế, do Hoàng đế sắc phong. Hoàng hậu nắm giữ địa vị cao quý nhất trong hậu cung, mẫu nghi thiên hạ và là hôn phối chính thức được cử hành nghi thức Đại hôn với Hoàng đế.

Hoàng hậu cũng có thể được phong cho phi tần là sinh mẫu của Tân đế mặc dù họ chưa từng là Hoàng hậu. Hoàng hậu cũng có thể bị phế bỏ, tước đi hoàng vị trở thành thứ nhân khi họ mắc trọng tội hoặc thiếu đức độ và không còn đủ tư cách, khi đó gọi là Phế hậu (廢后).

Thời cổ Trung Hoa gọi vị thủ lĩnh bộ tộc là Hậu (后), do đó các vua cổ đại khi còn sống thì gọi là Hậu, khi qua đời thì gọi là Đế (帝). Đến đời nhà Thương thì gọi vua là Vương (王), và dùng từ Hậu cho vợ chính của Vương, gọi là Vương hậu. Từ Vương hậu dùng để gọi vợ chính của các quân chủ nước chư hầu, vương quốc của những Quốc vương chứ không phải Hoàng đế.

Con trai Hoàng hậu sinh ra được gọi là Đích tử (嫡子), thân phận cao quý hơn các con trai của phi tần và cũng là ứng cử viên sáng giá cho ngôi vị Hoàng Thái tử của Hoàng đế. Con gái do Hoàng hậu sinh cũng là Đích công chúa (嫡公主), được ưu tiên gả cho các thế gia hiển hách.

Hoàng hậu còn là Hoàng Đích mẫu (皇嫡母) của những người con do các vị Phi tần khác sinh. Trước thời nhà Thanh, tất cả con của Hoàng đế đều gọi Hoàng hậu là Mẫu hậu (母后), gọi mẹ ruột là Mẫu phi (母妃) hoặc Mẫu thân (母親), mức độ tôn kính như nhau. Từ thời nhà Thanh, con của Hoàng đế gọi Hoàng hậu là Hoàng Ngạch nương (皇額娘), còn mẹ ruột chỉ được gọi Ngạch nương (額娘).

  • Khi Hoàng đế nhường ngôi về làm Thái thượng hoàng thì hoàng hậu gọi là Thái thượng Hoàng hậu
  • Khi Hoàng đế băng, thì hoàng hậu trở thành Hoàng thái hậu.

Việt Nam xưng Hoàng đế bắt đầu từ Lý Nam Đế. Các hoàng đế Việt Nam có thể lập nhiều hoàng hậu cùng lúc. Triều nhà Đinh, Đinh Tiên Hoàng lập 5 Hoàng hậu; Lê Đại Hành nhà Tiền Lê lập 5 Hoàng hậu; Lý Thái Tổ lập 9 Hoàng hậu, Lý Thái Tông lập 8 Hoàng hậu. Về sau các triều nhà Trần, nhà Hậu Lê chỉ lập 1 Hoàng hậu tại vị.

Trường hợp nhà Nguyễn, rất ít khi quyết định lập Hoàng hậu, cao nhất chỉ là Hoàng Quý phi. Khi Tân đế lên ngôi thì sinh mẫu được tôn là Hoàng thái hậu và khi qua đời có thụy hiệu là Hoàng hậu. Tuy nhiên, trừ ngoại lệ của Thừa Thiên Cao hoàng hậu, Lệ Thiên Anh hoàng hậu và Nam Phương hoàng hậu, được phong Hậu khi còn sống. Đặc biệt là Lệ Thiên Anh hoàng hậu, Tự Đức Đế nguyên phối, được di chiếu tôn làm Hoàng hậu, Hiệp Hòa đế kế vị đã theo di chiếu, cộng gọi nơi ở (khi ấy bà đang ở Khiêm lăng) nên gọi là Khiêm hoàng hậu.

[Hậu cung phân vị] Thái Hoàng thái hậu

[Thái Hoàng thái hậu; 太皇太后] thông thường được gọi là Thái Hoàng hoặc Thái Mẫu. là hoàng tổ mẫu của Hoàng đế đang tại vị hoặc Hoàng thái hậu của Tiên đế do Tân đế truy phong.

Trong cùng một thời gian có thể có hơn một Thái Hoàng thái hậu.

  • Khi 2 lần hoàng đế băng hà (2 hoàng đế đó là cha con) thì hoàng hậu (vợ chính) của hoàng đế băng hà lần đầu đó trở thành Thái Hoàng thái hậu. Các Hoàng phi trở thành Thái Hoàng thái phi (太皇太妃).
  • Tân đế mới lên ngôi có thể tôn phong hoàng tổ mẫu của mình làm Thái Hoàng thái hậu, dù người này không phải là Hoàng thái hậu của Tiên đế hay Hoàng hậu của đế đời trước nữa.

Trên Hoàng thái hậu là Thái hoàng thái hậu, trong lịch sử Trung Quốc thì tước vị này tối cao nhất trong hệ thống tước vị của hậu phi.

Trong nhiều nhận thức sai lầm, người ta cho rằng người đầu tiên có danh vị này là Lữ Thái hậu của nhà Hán, chính cung hoàng hậu của Tây Hán Cao Đế Lưu Bang, tuy nhiên sự thật không phải như vậy. Sau khi Hán Huệ Đế băng thệ, Lữ Thái hậu vẫn giữ tôn hào Hoàng thái hậu, thực hiện “Lâm triều xưng chế”, mọi chiếu chỉ đều tự xưng “Trẫm”, xe kiệu lễ nghi đều dùng kiểu của Hoàng đế. Có thể nói, quyền lực của Lữ hậu đã ngang với Hoàng đế, cứ như thế trong suốt 8 năm trời.

Sau khi Lữ Thái hậu băng thệ, triều thần tôn Đại vương Lưu Hằng, tức Hán Văn Đế, mẹ của Văn Đế là Bạc thị do đó trở thành Hoàng thái hậu. Và sau khi Văn Đế băng, Cảnh Đế kế vị, Bạc Thái hậu trở thành Thái hoàng thái hậu, đây chính là Thái hoàng thái hậu đầu tiên trong lịch sử của xứ Đông Á.

Người cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc có danh vị Thái hoàng thái hậu, chính là Hiếu Khâm Hiển hoàng hậu, hay Từ Hi Thái hậu. Một trong 3 người phụ nữ vĩ đại nhất lịch sử Trung Quốc và toàn bộ lịch sử Đông Á, bên cạnh Lữ Thái hậu và Võ Tắc Thiên.

Trong lịch sử Việt Nam các chúa Trịnh tôn hoàng tổ mẫu của chúa là Thái Tôn Thái Phi (太尊太妃). Có khi gọi chung là Quốc mẫu (國母) hay Quốc Thái mẫu (國太母).

Có thể kể đến một số vị Thái Hoàng thái hậu nổi tiếng của Việt Nam như:

  • Trường Lạc Thái Hoàng thái hậu, Lê Thánh Tông phi, Lê Hiến Tông sinh mẫu, Lê Túc Tông và Lê Uy Mục tổ mẫu
  • Từ Dụ Thái Hoàng thái hậu: Thiệu Trị Đế phi, Tự Đức Đế sinh mẫu, sống qua các đời vua Hiệp Hòa, Dục Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh
  • Khôn Nghi Xương Thánh Thái Hoàng thái hậu: Đồng Khánh Đế phi, Khải Định Đế sinh mẫu, Bảo Đại Mạt Đế tổ mẫu. Bà là vị Thái Hoàng thái hậu cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

[Hậu cung phân vị] Thái hậu

[Thái hậu; 太后]

Lịch sử của danh vị này tương đối không rõ. Thời Tiên Tần, khi Tần Chiêu Tương vương tôn mẫu thân là Mị thị làm Tuyên Thái hậu, thì khi đó “Thái hậu” trở thành danh vị phổ biến dùng để gọi mẹ của quân vương.

Vào thời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng quy định danh vị Hoàng đế, thì mẹ của Hoàng đế gọi là Hoàng Thái hậu. Song mẹ của Thủy Hoàng là Triệu Cơ khi ấy qua đời trước khi ông xưng Đế, và Thủy Hoàng chỉ có thể truy tôn bà làm Đế Thái hậu (帝太后). Từ thời nhà Hán, tôn vị quy định của Hoàng Thái hậu rất chặt chẽ, và người đầu tiên trở thành Hoàng Thái hậu khi còn sống là Lữ hậu, Hoàng hậu của Hán Cao Đế Lưu Bang.

Qua nhiều biến đổi khác nhau về thể chế, nhìn chung có 4 trường hợp phổ biến nhất để tôn làm Thái hậu:

1) Hoàng hậu của Tiên đế: Dù Tân đế kế vị không phải là do Hoàng hậu của Tiên đế sinh ra, Hoàng đế đó vẫn phải có nghĩa vụ tôn Hoàng hậu làm Hoàng thái hậu, và nhận người đó là mẹ cả, là người mẹ chính thức của Hoàng đế (Đích mẫu).

2) Sinh mẫu của Tân đế: Nếu Hoàng hậu cũng là mẹ của Tân đế, thì không việc gì phải bàn, tuy nhiên nếu chỉ là phi tần thì sao? Thời Đường – Tống, sinh mẫu của Hoàng đế dù chỉ là tần phi đã có thể được tôn trở thành Hoàng thái hậu, chỉ khi không có Mẫu hậu hoàng hậu còn sống, nếu Mẫu hậu còn sống thì vị sinh mẫu chỉ là Hoàng thái phi. Chỉ Minh – Thanh về sau, đồng tôn Lưỡng cung Thái hậu mới dần phổ biến.

3) Truy tôn Hoàng thái hậu: Việc này có nghĩa là, chỉ sau khi chết mới có thụy hiệu Hoàng thái hậu. Điều này phổ biến ở thời Tống, Thụy Thánh Hoàng thái phi hoăng, mới truy tôn làm Hoàng thái hậu. Hay như sinh mẫu của Đường Đức Tông Lý Quát là Thẩm phu nhân, chưa từng là Hoàng hậu, chỉ truy tôn Hoàng thái hậu mà thôi

4) Dưỡng mẫu của Hoàng đế: Đây là trường hợp rất hiếm và tương đối nghi kị, tuy nhiên đã từng xảy ra. Thời Bắc Ngụy, có một loại Thái hậu, gọi là [Bảo Thái hậu; 保太后], phong cho các Nhũ mẫu của Hoàng đế Thác Bạc thị khi Hoàng đế mất đi sinh mẫu lẫn đích mẫu. Về sau vào thời Tống, có Hoàng thái phi Dương thị được Lưu Thái hậu di chiếu tôn làm Hoàng thái hậu, gọi là Bảo Khánh hoàng thái hậu. Đến thời Thanh, có Hiếu Tĩnh Thành hoàng hậu từng tôn Hoàng thái hậu. Đó đều là những trường hợp đặc biệt.

5) Hoàng đế cùng vai vế với Tân đế: trường hợp Hoàng đế kế vị là anh/em trai hay thậm chí là chú/ bác, thì tôn mẹ đẻ làm Hoàng thái hậu, còn vị Hoàng hậu của Tiên đế thì gia tôn thêm mỹ hiệu, được lấy từ thụy hiệu hay niên hiệu của Tiên đế (như Khai Bảo Hoàng hậu nhà Tống), hay nơi vị Hoàng hậu ấy đang ở (như Khiêm Hoàng hậu Vũ thị nhà Nguyễn).

Ở Việt Nam, đồng tôn cũng hầu như ít khi xảy ra. Thời Nguyễn, Hoàng thái hậu là độc tôn, sinh mẫu hoặc dưỡng mẫu của Hoàng đế đều chỉ có thể tôn làm Hoàng thái phi. Do hầu hết các Hoàng thái phi đều bị tước huy hào, cũng không rõ khi một Hoàng thái phi mất thì sẽ truy tôn thụy hiệu Hoàng hậu hay không.

Hựu Thiên Thuần hoàng hậu Dương thị, mẹ sinh của Khải Định Đế, trước chỉ là Hoàng thái phi. Sau đó, Hoàng đế mới đồng tôn Hoàng thái hậu, dâng huy hiệu Khôn Nghi Hoàng thái hậu.

Lê Thánh Tông Kính phi Nguyễn thị

Kính phi Nguyễn thị, người xã Bất Căng, huyện Lôi Dương, nữ nhi Đô đốc Thiêm sự, Đề đốc 4 vệ Thần vũ Đức Nghị và phu nhân Đại Trung Nguyễn thị, người xã Đại Trung, huyện Hoằng Hóa, nữ nhi Chuyển vận sứ Nguyễn Nhân Mỹ.

Phi từ nhỏ mồ côi, do Giản Cung hầu Lê Hưu nhận làm con, do đó nhập tịch trở thành Lam Sơn Lê thị xuất thân. Vì lý do này bà sớm nhập cung từ năm Quang Thuận thứ nhất (1460), phong làm Tuyên vinh ở hàng lục chức, sau năm thứ 7 (1466) thì tiến thăng Tiệp dư. Bà sinh ra Hoàng tam nữ Thụy Hoa, sau phong làm Minh Kính công chúa.

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), tháng 7, lại thăng Sung dung, một trong Cửu tần, do vậy bà vào làm chủ Xuân Trường cung.

Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), tháng 11, Đế (Thánh Tông) lấy Hoàng bát tử Lê Táo làm con của bà. Sang tháng 7 năm sau (1472) lại thăng làm Tu dung, ở Thọ An cung.

Năm Hồng Đức thứ 8 (1477), tiến Kính phi, chủ vị Thọ An cung. Năm thứ 16 (1495), Phi mất, chỉ mới 41 tuổi, tạm quàn ở quê ngoại là xã Phúc Lâm, ban 60.000 đồng làm chi phí tang lễ.

Kính phi Nguyễn thị rất được Lê Thánh Tông sủng ái, khi làm văn tế có lời đại khái nói “Nàng từ tuổi trẻ được kén vào cung, đức hạnh dung nghi thực không đáng thẹn”.

Theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, Kính phi là người vui buồn đều không dễ dàng lộ ra, mỗi khi Thánh Tông se mình đều do Phi hầu hạ, chứ không phải là mẹ của Thái tử là Vĩnh Ninh cung Nguyễn Quý phi. Bà lại ham đọc sách, thông hiểu đại nghĩa, ăn mặc chi dùng tiết kiệm, không trang điểm xa hoa, được tán dương là hiền phi.

Bà qua đời chỉ cách Thánh Tông độ chừng 2 năm, cộng thêm thời gian này Vĩnh Ninh cung Quý phi thất sủng, rất có thể cái chết của bà đã khiến Thánh Tông trút giận lên Quý phi bằng cách lạnh nhạt. Cuối cùng, sự uất hận đã khiến Quý phi ra tay hạ sát Thánh Tông.

Lê Hiến Tông phi, Chiêu Nhân Hoàng Thái hậu

Chiêu Nhân hoàng thái hậu Nguyễn thị, húy Cẩn, Lê Hiến Tông phi, Lê Uy Mục sinh mẫu. Tên [Cẩn; 瑾] trong “Cẩn du” (瑾瑜), một thứ ngọc đẹp (có lẽ là tên do Hiến Tông Đế hoặc Uy Mục Đế đặt)

Hậu người Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn. Khi còn trẻ, Hậu mồ côi và vi hàn, tự bán mình làm nô tỳ cho một nhà quan ở phủ Phụng Thiên. Sau nhà ấy bị tội, Hậu bị bắt làm quan tỳ, phân phó vào Vĩnh Ninh cung hầu (tức là nơi ở của Huy Gia hoàng thái hậu). Khi ấy Hiến Tông vẫn còn là Thái tử, hay ra vào Vĩnh Ninh cung thỉnh an, trông thấy Hậu bèn ưng, rồi sủng hạnh.

Hậu sinh ra hoàng tử Lê Tuấn, tức Uy Mục Đế vào ngày 5 tháng 5 năm Hồng Đức thứ 19 (1488), không lâu sau thì băng. Uy Mục Đế giao cho Kính phi Hoa Lăng Nguyễn thị nuôi dưỡng.

Năm Đoan Khánh nguyên niên (1505), tháng 2, truy tôn làm Chiêu Nhân Hoằng Ý hoàng thái hậu. Tháng 3, phụng ở Minh Đức cung Thái miếu. Tháng 4, dựng Chân Nguyên điện và Thụy Bảo đường ở Phù Chẩn để thờ dòng họ.

Bấy giờ, Phù Chẩn Nguyễn thị do có Hậu là đế mẫu, ỷ thế làm càn, triều đình dơ bẩn. Khi Tương Dực Đế lên, cho giết sạch toàn bộ Phù Chẩn Nguyễn thị, loạn mới hết.

Lý Cao Tông An Toàn Hoàng hậu Đàm thị

Hoàng hậu của Lý Cao Tông, mẹ sinh Lý Huệ Tông, nội tổ mẫu của Lý Chiêu Hoàng và Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu; một trong những tổ tiên của các Hoàng đế nhà Trần, Đàm Thái hậu vào thời kì của mình là người phụ nữ rất có danh vọng và quyền thế. Và từng hành vi của bà đều chứng minh như vậy.

Không rõ quê quán và xuất thân, nữ nhi Đại tướng quân Đàm Thì Phụng. Ban đầu bà không phải Hoàng hậu mà sơ phong Nguyên phi. Năm Giáp Dần (1194), hạ sinh Hoàng tử Lý Hạo Sảm, con trai thứ 3 của Cao Tông, tiến phong Hoàng hậu. Năm Mậu Thìn (1208), sách lập Sảm làm Hoàng thái tử. Đại Việt Sử Lược ghi nhận thực tế Lý Hạo Sảm là con thứ 3, trong khi Đại Việt Sử ký toàn thư lại ghi là “trưởng tử”, đến năm 14 tuổi thì Sảm mới được phong làm Hoàng thái tử, điều này chứng minh trước đó có 2 vị hoàng tử nhưng đều chết sớm, và Sảm là người được chọn. Ngoài ra, bà còn có hai công chúa, một người hình như có phong hiệu là Thiên Trinh công chúa.

Lên được vị trí Hoàng hậu, bà tìm cách tạo thế lực cho mình khi đưa người trong họ là Đàm Dĩ Mông lần lượt nắm hết các chức vụ quan trọng. Khi Thái tử Sảm kế vị, tức Huệ Tông hoàng đế, bà thân là Hoàng thái hậu, cùng lâm triều nghe chính sự. Có thể nói ngoài Thượng Dương cung Thái hậu, Ỷ Lan Thứ phi, Đàm Thái hậu là người phụ nữ được chính thức ghi nhận tham dự triều chính.

Khi loạn Quách Bốc xảy ra, Huệ Tông từng chạy đến Lưu Gia nương nhờ đại gia tộc họ Trần đang làm chủ vùng này, và Huệ Tông đã nghênh thú Trần Nhị Nương làm Phi. Tuy nhiên điều này khiến Đàm hậu rất chướng mắt vì rõ ràng là nhà họ Trần lợi dụng thời cơ, ngoài ra con dâu có thế lực lớn sẽ đe dọa tiền tài của dòng họ bà, nên Đàm hậu bắt buộc Trần thị ở lại nhà mẹ đẻ khi Huệ Tông được đón về kinh sư.

Khi Huệ Tông lên ngôi, cho đón Trần thị, Đàm Thái hậu lại gây khó dễ khiến Trần thị chỉ được sắc phong làm Nguyên phi. Điều này không đơn thuần chỉ là việc bà phủ nhận cuộc hôn nhân năm xưa, mà còn vì bản thân bà cũng chỉ là phi thiếp nhập cung, sau mới phong Hoàng hậu, nên việc nhìn con dâu có thể phong Hoàng hậu khiến Đàm Thái hậu có phần ghen ghét và đố kị.

Sau khi Tô Trung Từ qua đời, Trần Tự Khánh trở thành lãnh đạo họ Trần, gây xích mích với Hồng Châu Đoàn thị nên bị họ Đoàn tấu sớ hạch tội, bên trong Đàm Thái hậu dèm pha, Huệ Tông tức giận giáng Nguyên phi làm Ngự nữ. Lãnh đạo Hồng Châu là Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi đem binh về kinh sư, Huệ Tông hạ chiếu tấn phong tước hầu cho Đoàn Thượng, và kêu gọi các chư hầu tiêu diệt Trần Tự Khánh.

Lúc bấy giờ, Trần Tự Khánh dẫn quân đi đánh khắp nơi, thu phục được nhiều đất, đặc biệt chiếm được Hồng châu, vùng từ Lạng châu đến núi Tam Trĩ hết thảy đều là đất của họ Trần. Tự Khánh do lo sợ Trần Nhị Nương ở trong kinh sư bị hãm hại, kéo binh đến bến Tế Giang, sát ngay Thăng Long.

Đàm Thái hậu ngờ vực Tự Khánh có ý phế lập ngôi vị, bèn đem ba Hoàng tử; Nhân Quốc vương, Lục hoàng tử và Thất hoàng tử con của Cao Tông với các thị thiếp khác dìm đầu chết ở sau giếng trong cung. Thế là ngôi vị của Huệ Tông được giữ vững mà không sợ bị phế lập. Thái hậu sai đem xác cả ba ngươi vứt ra ngoài cửa Lâm Quang cung. Quần thần đều sợ Thái hậu không ai dám nhìn, chỉ có vị quan viên bất bình với sự tàn độc của Thái hậu mà thốt lên: “Tiên quân đi đâu mà khiến cho ba người con bị hại như thế này!”

Sự độc ác của Đàm Thái hậu dâng lên đỉnh điểm khi nghe tin Trần Nhị Nương có thai. Do tin hỉ, Huệ Tông lập phong Trần thị làm Thuận Trinh phu nhân, và điều này khiến Đàm Thái hậu gần như phát điên. Bất chấp đứa con trong bụng Trần thị là cháu nội của mình, Thái hậu ép Trần thị tự vẫn, suýt nữa mất mạng nếu Trần thị không quyết liệt phản kháng và Huệ Tông không đến kịp. Sau hôm đó, Huệ Tông đưa Trần thị đến bên Tự Khánh, và quyết định công nhận sự bảo hộ của họ Trần. Có thể nói, sự tàn bạo và tham trọng vinh dự của Đàm Thái hậu đã tiếp tay cho họ Trần thâu tóm nhà Lý vậy.

Sau đó bà gần như biến mất trong lịch sử. Đại Việt sử lược ghi nhận khi Huệ Tông xuất gia đi tu ở Chân Giáo tự, Đàm Thái hậu cũng cắt tóc đi theo. Sau khi Huệ Tông qua đời, có lẽ bà chết cùng tông tộc nhà Lý trong sự kiện Thái Đường, Hoa Lâm. (Toàn thư chép:” Mùa đông năm ấy, nhân người họ Lý làm lễ tế các vua Lý ở Thái Đường, Hoa Lâm, Thủ Độ ngầm đào hố sâu, làm nhà lên trên, đợi khi mọi người uống rượu say, giật máy chôn sống hết. Xét thời Trần Anh Tông còn có người họ Lý làm tướng, hơn nữa Phan Phu Tiên không ghi lại, việc này chưa chắc đã có thực, hãy tạm chép vào đây.”)

Hoằng Tông Nhất giai Ân phi Hồ thị

Ân phi Hồ Thị Chỉ có thể nói là vị Hoàng phi nổi tiếng nhất triều Nguyễn, khi câu chuyện đầy bi kịch của bà giữa Duy Tân Đế tạo niềm cảm xót vô hạn cho người biết đến.

Bà trở thành Nhất giai Ân phi của Hoằng Tông Tuyên hoàng đế (Khải Định Đế). Sau khi Bảo Đại Mạt Đế kế vị, bà dọn ra An Định cung (nơi ở của Khải Định Đế khi còn là Phụng Hóa công). Không lễ nghi, không tôn phong, bà sống như một dân thường cho đến khi qua đời năm 1982, là hậu phi cuối cùng của Hoằng Tông qua đời (bà Từ Cung mất năm 1980).

Năm Khải Định thứ 2 (1917), tháng 8, lấy Hồ thị làm Nhất giai Ân phi. Dụ rằng: “Vương hóa bắt đầu từ nội bộ, Quan thư và Thường Sào xếp thứ nhất trong Nhị Nam. Trị nước trước hết phải tề gia, hiền phụ Ấp Khương cùng dự vào hàng Thập loạn. Xét nay ngôi Phi nắm giữ việc nội chính từ lâu vẫn để khuyết, chưa tìm được người để xét trao. Nay kính nhận được từ dụ của Lưỡng Cung bệ hạ, Hoàng thượng vất vả cơ vụ, thì nội chính không thể thiếu người phụ tá để chăm nom sai khiến nội thuộc, nên chọn một cung phi thay chăm nom hầu hạ già này, đỡ cho Hoàng thượng phải bận tâm lo nghĩ. Nghe nói Cơ Mật viện đại thần, Hiệp tá Đại học sĩ, lĩnh Học bộ Thượng thư kiêm Lễ bộ sự vụ Khánh Mỹ tử Hồ Đắc Trung có con gái thứ 3 là Hồ Thị Chỉ rất có dung nhan đức hạnh, nên tuyển sung vào nội đình tấn thăng làm hàng Phi để nghiêm phép tắc trong cung và chỉnh bề thể thống. Kính vân ngọc chỉ không chậm trễ trái lời, truyền từ dụ chuyển cho Đại thần bàn tâu được biết. Đồng thời truyền báo cho Khâm Thiên giám chọn ngày dùng nghi thức đưa vào đại nội. Lại kính vân ý chỉ, tấn phong thị ấy làm Nhất giai Ân phi, để thị ấy mãi giữ thánh sủng, muôn đời giữ thuần đạo. Truyền Hữu ty tuân theo lệ cũ xưa nay đệ phiến chúc tâu từng khoản đợi cử thi hành.”

Hoằng Tông Nhất giai Hậu phi Hoàng thị

Hoàng thị, húy là Hoàng Thị Cúc, nữ nhi Thái Thưởng Thị Khanh Nghi Quốc công Hoàng Văn Tích, sinh ngày 8 tháng Giêng năm Canh Dần (1890).

Xuất thân là một cung nữ hầu hạ hai bà Thánh Cung Nguyễn Hữu Thị Nhàn và Tiên Cung Dương Thị Thục. Từ đây, bà dần tiếp xúc với Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo – con của bà Tiên Cung và được Phụng Hóa Công để ý tới. May mắn thay, đầu 1913 bà được mang trong mình dòng máu của Phụng Hóa Công. Dù bị hai bà Tiên Cung và Thánh Cung nghi ngờ về cái thai trong bụng, tra hỏi quyết liệt nhưng bà vẫn nhất quyết khẳng định đây là người con của Phụng Hóa Công.

Sau ngày vua Khải Định lên ngôi (1916), bà được vua rước vào cung và được phong Tam giai Huệ tần (năm Đinh Tỵ 1917) rồi Nhị giai Huệ phi (1918). Nhưng vì xuất thân là phận cung nữ nên bà không được bà Tiên Cung (mẹ vua Khải Định) coi trọng. Khi hạ sinh Vĩnh Thuỵ thì bà đã phải xa cách con mình, bà Tiên Cung bế đứa bé ấy về cung mình và bà Hoàng Thị Cúc chỉ được nhìn thấy con vài lần khi cho bú trong ngày. Khi Vĩnh Thụy lớn lên một chút thì bà chỉ biết thể hiện tình mẫu tử qua việc đến Sở Thượng Thiện xem hôm đó con mình ăn gì mà không làm gì khác. Mỗi khi muốn gặp con, phải được bà Tiên Cung cho phép, bà vô cùng đau đớn nhưng không dám thổ lộ ra bên ngoài dù cho là với vua Khải Định. Mặc dù bị bà Tiên Cung đối xử ghẻ lạnh nhưng Huệ phi không tiếng than vãn vì bà ý thức được vị trí của mình và sự may mắn của mình. Rồi khi chẳng mấy năm sau, Hoàng Thái tử Vĩnh Thụy lên đường sang Pháp du học và 10 năm dài đẵng đẵng xa con.

Sau ngày vua Khải Định băng hà, người con trai của bà là Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy lên ngôi và phong bà làm Đoan Huy Hoàng Thái hậu, từ đây bà có một cuộc sống của một bà hoàng đúng nghĩa, thoải mái và quyền uy và được tôn xưng là Từ Cung.

Tuy là người nghiêm nghị nhưng ngược lại bà vô cùng nhân hậu. Năm 1934, người con trai mà bà vô cùng yêu quý đã kết duyên cùng với một người con gái theo đạo Công giáo – Nguyễn Hữu Thị Lan, trong khi bà theo đạo Phật và chuyện “mẹ chồng nàng dâu” là khó tránh khỏi và mâu thuẫn giữa hai người trong cuộc sống hănhg ngày ngày càng nhiều hơn.

Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại thoái vị, sau đó Cựu hoàng ra Hà Nội làm Cố vấn tối cao cho chính phủ lâm thời, bà cùng người con dâu và 5 người cháu: hoàng thái tử Bảo Long, công chúa Phương Liên, công chúa Phương Mai, công chúa Phương Dung và hoàng tử Bảo Thắng về sống tại Cung An Định. Chẳng bao lâu sau chiến tranh nổ ra, Pháp quay lại Việt Nam, vì để tránh cuộc chiến này, Nam Phương Hoàng hậu đã đưa các con đến sống tại một tu viện tại Huế. 1947, Hoàng hậu đã lặng lẽ đưa các con sang Pháp sống mà không báo cho Đức Từ Cung. Vì chuyện này mà Đức Từ Cung vô cùng đau lòng, hằng ngày bà chỉ biết tụng kinh, niệm Phật để vơi đi nỗi nhớ con nhớ cháu.

Sau khi cựu hoàng Bảo Đại được người Pháp đưa về làm Quốc trưởng (1950) Quốc gia Việt Nam, bà Từ Cung được quay trở về sống tại cung Diên Thọ. Nhưng sau đó vài năm thì Ngô Đình Diệm lật đổ Cựu hoàng buộc Cựu hoàng phải sống cuộc sống lưu vong tại Pháp thì bà Từ Cung phải rời khỏi Hoàng cung và không được trở lại Cung An Định nữa. Bà về sống tạm tại phủ Kiên Thái Vương, khi đã tích góp được một ít tiền bà mua lại căn nhà số 79 đường Phan Đình Phùng sống cùng một vài cung nữ trong đó có bà cung nữ Lê Thị Dinh. 1963, khi biết Nam Phương Hoàng hậu mất, bà khóc rất nhiều và cũng rất lo cho những người cháu của mình không biết sẽ sống ra sao.

Mặc dù cuộc sống đầy khó khăn, sau lại bị Ngô Đình Diệm gây khó dễ, không được giàu sang như những ngày sống trong cung nhưng bà luôn tâm niệm rằng đã là người của nhà Nguyễn thì dù sông hay chết bà vẫn phải ở lại Huế để lo nhang khói cho các vua triều Nguyễn và hoàng tộc. Vì thế dù trải qua mưa bom bão đạn, Đức Từ Cung vẫn quyết ở lại Huế đến phút cuối cùng, chứng kiến những cuộc giao tranh ác liệt nhất tại nơi đây.

Mùa thu 1980, nhận thấy sức khoẻ yếu nhiều, khó qua khỏi bà đã cho mời đại diện chính quyền thành phố Huế đến và nói: “Tôi vốn xuất thân từ gia cảnh nghèo khó, không có tài sản gì cả. Những tài sản tôi có được hôm nay đều là của nhà Nguyễn, nay triều Nguyễn không còn thì đây là tài sản nhà nước, tôi xin giao lại cho các ông”. Khi bà mất, không người thân bên cạnh, con cháu cũng không chỉ có bà Lê Thị Dinh – người cung nữ trung thành nhất của bà bên cạnh bà trong giờ phút cuối. Bà mất ngày 3 tháng 10 năm Canh Thân (1980), hưởng thọ 91 tuổi.

Cuộc đời của vị Hoàng Thái hậu cuối cùng của triều Nguyễn đầy mất mát và đau thương. Điều đâu khổ nhất đối với bà là cho đến khi gần nhăm mắt xuôi tay, bà vẫn không thể được nhìn ngắm và ở bên cạnh người con trai duy nhất của mình.

(Ngôi nhà Đức Từ Cung đã gắn bó những năm tháng cuối đời – 145 đường Phan Đình Phùng hiện nay trở thành điểm tham quan của du khách để họ có thể hiểu hơn về vị Hoàng Thái hậu cuối cùng của triều Nguyễn).

Duyên phi Mai thị

Sách Kể chuyện các vua Nguyễn có viết:

“Năm 1915, vua Duy Tân được 16 tuổi, bà Mai Thị Vàng 17 tuổi. Một hôm nhà vua hỏi ông Mai Khắc Đôn: “Con gái của thầy có cô nào lớn không?”, thì được tâu rằng: “Các con gái của hạ thần đều còn nhỏ dại”.

Một ngày, vua Duy Tân ngồi xe song mã với ông Đôn đi ngang qua bộ Lễ (nơi ông này ở), thấy tiểu thư Mai Thị Vàng cùng các em đang chơi ở cổng, bèn hỏi: “Có phải cô gái lớn kia là con của thầy không? Con gái của thầy lớn vậy, sao thầy lại dấu tôi?”.

Theo lời kể của bà Mai Thị Vàng, lúc bấy giờ, bà đến bộ Lễ thăm cha, chứ thường ngày ở tại thôn Kim Long với mẹ.

Theo sách Chuyện các bà trong cung nhà Nguyễn của Nguyễn Đắc Xuân, cũng đã thuật lại câu chuyện Hoàng đế Duy Tân chọn vợ.

Năm 1915, nhân một hôm cắt nghĩa hai chữ “nạp phi” cho vua nghe, Thượng thư Huỳnh Côn buột miệng hỏi: “Ngài đã muốn lấy vợ chưa?”. Vua Duy Tân không tỏ ra bẽn lẽn và cũng không cần phải suy nghĩ đắn đo nhiều, đáp: “Vận nước mới đáng lo, chuyện nạp phi không cần gấp. Nếu trì hoãn được chậm bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu”.

Việc từ chối ấy đến tai bà Hoàng phi Nguyễn Thị Định. Rất lo buồn, bà Hoàng phi đã gọi Duy Tân và năn nỉ hết lời. Vốn là một con người hiếu thảo, Duy Tân không thể từ chối.

Tin vua Duy Tân đồng ý nạp phi lan khắp kinh thành. Các bà mệnh phụ, các ông đại thần có con gái, cháu gái, đều xin ra mắt nhà vua. Sau đợt cung tiễn ấy, các thái giám đã lập được một danh sách chừng 25 người để vua lựa chọn, nhưng ông cứ hẹn rày hẹn mai, không chịu “chấm” một cô nào.

Chờ đợi một thời gian không đạt được kết quả, bà Hoàng phi sốt ruột, đích thân cầm tờ danh sách người đẹp và yêu cầu vua thích cô nào thì phải lựa ngay. Lúc đó, Duy Tân cười trả lời: “Con không thể chấm được ai cả vì con có người yêu rồi!”

Thế là, vì muốn gặp mặt “nàng dâu”, bà Hoàng phi cùng nhà vua tới Cửa Tùng. Suốt 5 ngày, bà vẫn không thấy bóng dáng ai là người yêu của vua Duy Tân, nên hết sức thất vọng. Đến ngày thứ 8, người phụ trách thị vệ nêu một điều khó hiểu: “Không hiểu sao mấy hôm nay, mỗi lần ra bãi tắm, vua rất say mê việc đào bới cát, có lần đào rất sâu. Chúng tôi không hiểu tâu thì Ngài đáp: Ta đang đãi cát tìm vàng đây!”

Câu chuyện càng làm cho bà Hoàng phi mất ngủ. Sáng hôm sau, bà buồn nói với vua: “Con điên sao mà lại đi tìm người yêu trong cát?”

Duy Tân giải thích một cách từ tốn: “Con không điên đâu. Con nói thật đó. Ả đừng buồn nữa. Nếu ở đây con tìm không được thì về Huế thế nào ả cũng gặp được”. Lúc này, bà Hoàng phi mới hiểu: “Rứa thì ả hiểu rồi. Người yêu của con là Mai Thị Vàng, con gái quan phụ đạo Mai Khắc Đôn chứ gì?”

Vua Duy Tân giọng rất vui: “Thưa ả, đúng thế!”

Sau đó ít lâu, nhà vua cho hai người nhà đến thôn Kim Long để xem mặt tiểu thư Mai Thị Vàng và xin ảnh đem về cho bà Hoàng phi xem. Và rồi, một tháng sau, lễ hỏi được cử hành; tới ngày 30 tháng 1 năm 1916, lễ nạp phi được tổ chức trọng thể ở bộ Lễ.

Người rất được nhà vua yêu thương và thường được cho ngồi dùng bữa cùng với nhà vua

Cuối năm 1916, Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp không thành nên bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion thuộc Pháp trên Ấn Độ Dương. Đi cùng vua có Hoàng mẫu Nguyễn Thị Định, Diệu phi Mai thị và em ruột là Mệ Cưởi mới 12 tuổi. Lúc theo chồng lên đường, bà Diệu phi đã có mang 3 tháng và bị sẩy thai. Sau hai năm ở đảo Réunion, vì không hợp thủy thổ, khí hậu, bị đau ốm luôn. Bà cùng mẹ chồng là bà Định cùng em ông trở về Tổ quốc.

Khi ở đảo Réunion, Duy Tân vẫn thường gửi thư về cho bà. Năm 1925, Duy Tân đã gửi thư về cho hội đồng tộc kèm giấy ly hôn bà Mai Diệu phi, xin Hội đồng chứng nhận để bà đi lấy chồng khác. Khi đó, bà mới 27 tuổi nhưng cương quyết thủ tiết với chồng cho đến ngày qua đời (ngày 26 tháng 1 năm 1980) tại Hậu thôn Kim Long.

Người ngâm rằng

Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.
Đá dù nát, “Vàng” chẳng phai
Tử sinh vẫn giữ lấy lời tử sinh.

Nguyễn Dực Tông Học phi Nguyễn Văn thị

Nguyễn Văn thị, húy là Nguyệt, là đệ nhất sủng phi của Tự Đức đế. Sau khi nhập cung, bà được sơ phong Tứ giai Lượng tần, sau thăng Nhị giai Khiêm phi, rồi Nhất giai Học phi, địa vị chỉ dưới Hoàng Quý phi Vũ Thị Duyên, ngang hàng với Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm. Bà nhận nuôi con trai của Kiên Quốc công Hồng Cai là Nguyễn Phúc Ưng Đăng.
Sau khi Tự Đức băng hà, Dục Đức bị phế, Hiệp Hòa bị bức tử, Ưng Đăng được chọn kế vị, tức Kiến Phúc đế. Học phi tuy là dưỡng mẫu nhưng cũng được tôn danh vị Hoàng Thái phi, cùng với Từ Dụ Thái hoàng Thái hậu và Trang Ý Hoàng Thái hậu hợp thành Tam cung , ngày sinh của bà được gọi là Diên Xuân tiết, đãi ngộ không kém so với nghi lễ của Hoàng Thái hậu.
Nhưng cũng chỉ 8 tháng sau, Kiến Phúc bất ngờ qua đời. Nhiều tin đồn cho rằng Nguyễn Văn thị tư thông cùng Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, đầu độc Hoàng đế. Sau khi Hàm Nghi kế vị, đã phế bỏ danh vị Hoàng Thái phi của bà, giáng làm Học phi như cũ. Sau khi bà qua đời, truy hiệu Huy Thuận Học phi.

Lê Hiến Tông Kính phi Nguyễn thị

Nguyễn thị vốn là thứ phi của Hoàng Thái tử Lê Tranh dưới thời Lê Thánh Tông. Năm Hồng Đức thứ 19 (1488), bà nhận nuôi hoàng tôn Lê Tuấn (con của Nguyễn Thị Cận, một thị thiếp của Thái tử). Khi Lê Tranh lên ngôi, tức Lê Hiến Tông, bà được sắc phong làm Kính phi, địa vị trong cung chỉ thấp hơn Quý phi Bùi thị.
Năm Cảnh Thống thứ 9, Hiến Tông băng hà, Hoàng Thái tử Lê Thuần nối ngôi, tức Lê Túc Tông, nhưng cũng chỉ được 6 tháng thì lâm bệnh mà mất. Bằng nhiều thủ đoạn, Nguyễn Kính phi đã thành công đưa con nuôi của mình là Lê Tuấn kế vị, tức Lê Uy Mục. Từ đó, gia tộc của bà trở thành 1 trong ba thế lực ngoại thích quyền khuynh triều dã. Nhưng chỉ 4 năm sau đó, Giản Tu công Lê Oanh khởi binh đoạt Hoàng vị, gia tộc của Nguyễn Kính phi đều bị xử tử.

Nguyễn Dực Tông Lệ Thiên Anh Hoàng hậu Vũ thị

Lệ Thiên Anh hoàng hậu (chữ Hán: 儷天英皇后, 20 tháng 6 năm 1828 – 3 tháng 6 năm 1903), là vợ chính thức của Nguyễn Dực Tông Tự Đức, vị quân chủ thứ tư của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Hoàng hậu là người đoan trang, xuất thân từ gia đình danh giá có học vấn, hiểu lễ nghi, rất được Từ Dụ Thái hậu yêu mến. Bấy giờ vua Tự Đức không có con, bèn nhận 3 hoàng tử từ trong hoàng gia nhận làm con nuôi, Hoàng hậu được phó thác nuôi dạy Thụy quốc công Ưng Chân, tức Dục Đức.

Bà có tên là Duyên (緣), lại có tên là Hài (諧), sinh vào năm Minh Mạng thứ 8 (1828), ngày 9 tháng 5 âm lịch, bà xuất thân từ dòng họ Vũ Xuân (武春氏) ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, nữ nhi Đông Các đại học sĩ Lệ Quốc công Vũ Xuân Cẩn và Lệ Quốc phu nhân Trần thị. Bà từ bé nhàn tĩnh đoan nhã, tính khí nhu mì đặc biệt, lại thông thạo sách vở, hiểu nội tấc, cũng như rành rẽ việc trong nhà.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), bà được tuyển vào cung hầu Tự Đức, khi đó còn là Phúc Tuy công, tại Tiềm để. Vốn tính đoan trang, hiếu thuận, nên bà rất được mẹ chồng là Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu và chồng yêu quý.

Năm Mậu Thân (1848), Phúc Tuy công Hồng Nhậm lên kế vị, Vũ thị được tấn phong làm Cung tần theo lệ của triều đình. Dựa theo việc xảy ra tương tự thời Thiệu Trị, có lẽ là do phải chờ mãn tang 3 năm sau cái chết của Tiên Đế mới bắt đầu tiến hành phong hiệu chính thức các tần phi.

Tự Đức năm thứ ba (1850), khi định lại gia bậc hậu cung, Cung tần Vũ thị được vua Tự Đức phong làm Cẩn phi. Sử sách nhà Nguyễn chép: “Yêu thay cung tần Vũ Thị, ra tự thế phiệt, đức tốt ngọc quỳnh. Nội trị tu tề, kính theo phụ đạo. Thờ mẹ yên thắm được vui tự tâm. Bèn theo điển lễ để tỏ ân to, đặc cách tấn phong làm Cẩn phi.”

Cẩn phi Vũ Thị Duyên luôn là người vợ hiền, dâu thảo, mùa xuân năm Tự Đức thứ 13 (1860) Cẩn phi Vũ Thị Duyên được Tự Đức phong làm Thuần phi bởi “… Cẩn phi Vũ Thị, dòng dõi danh gia, hiền tài, trinh tư thục thận. Đoan trang tỏ nết tốt, nộ trị theo đức hóa tu tề; cẩn kính cả đức hay. Thờ mẹ sẵn một lòng ngoan ngoãn, trên yên lòng mẹ, liền đội ơn dày.”

Mùa đông năm Tự Đức thứ 14 (1861) Thuần phi Vũ Thị Duyên được phong làm Thuần phi và đến mùa xuân, tháng giêng năm Tự Đức thứ 15 (1862) bà được phong làm Hoàng Quý phi, đứng đầu các bà vợ của vua. Việc tấn phong Thuần phi Vũ Thị Duyên làm Hoàng Quý phi vua Tự Đức có dụ rằng: “Trong cung vi là gốc phong hóa, không thể không đặt người để xướng suất cung nhân, chấp hành phụ đạo. Thuần phi Vũ Thị, con nhà danh gia, kính vâng tuyển hầu ta. Cùng có đức hạnh nên cân nhắc lên. Vậy tấn phong làm Hoàng quý phi, suất nhiếp sáu viện”.

Năm Tự Đức thứ 35 (1882), mùa đông, bà bị giáng làm Trung phi, không cho trông coi 6 viện nữa. Nguyên nhân là vì việc quản lý nhân sự của bà không được chu toàn. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: “Lúc bấy giờ cơ vụ rất nhiều, (vậy mà) có khi quá trưa vua mới được ăn. Vua se mình đang uống thuốc, cung nhân tiến cơm hơi chậm (làm) trái ý vua”

Năm thứ 36 (1883), Tự Đức băng hà. Trước khi mất, Tiên đế di chiếu tôn bà làm Hoàng hậu, để “trị việc trong nhà và dạy tự quân”. Người kế vị là Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Chân, vị hoàng tử được bà dạy dỗ từ trước, tức Dục Đức.

Cung Tông Huệ hoàng đế tại vị được 3 ngày thì bị quyền thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế bỏ, giam trong ngục Thừa Thiên, rồi mất sau đó không lâu. Sau khi ép chết Cung Tông, cả hai ông này lập người em của Tự Đức là Lãng Quốc công Nguyễn Phúc Hồng Dật lên kế vị, tức Văn Lãng Quận vương, con trai thứ 29 của Thiệu Trị.

Mùa thu, năm 1883, theo di chiếu, đình thần định tôn lập bà làm Hoàng hậu. Nhưng chưa kịp tổ chức lễ, thì bà đã đến cung Gia Thọ lạy từ thái hậu Từ Dụ để xin ra chầu thờ ở Lăng Tự Đức, vì xét thấy mình đã không làm tròn việc dạy dỗ tự quân (tức Cung Tông). Khi ấy, Hiệp Hòa ngỏ ý mời bà đến điện Cao Minh để bái yết và dâng cơm, nhưng bà không nhận mà đi thẳng ra Ôn Khiêm đường ở Khiêm Lăng. Sau khi hỏi ý kiến các tôn nhân và đình thần, Hoàng đế tôn bà là Khiêm Hoàng hậu (謙皇后).

Tháng 10, năm 1883, Hiệp Hòa cũng bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường sai người giết chết, rồi tôn Giản Tông Nghị hoàng đế lên thay. Tháng 6, năm 1884, Giản Tông băng hà đột ngột. Lập tức, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tôn Hàm Nghi lên thay. Tháng 3, năm 1885, Hàm Nghi tấn phong Nghi Thiên Thái hoàng thái hậu, nhân đó muốn xin tôn phong huy hiệu cho Khiêm Hoàng hậu như đúng lễ nhưng bà không nhận.

Lúc xảy ra Trận Kinh thành Huế 1885, Hàm Nghi phải xuất bôn ra Quảng Trị, bà cùng chạy theo Nghi Thiên Thái hoàng thái hậu ra đấy. Cùng chạy với bà còn có Học phi Nguyễn Văn thị, mẹ nuôi của Nguyễn Giản Tông. Sử nhà Nguyễn thường gọi cả ba người là Tam cung (三宮). Khi nghị hòa xong, Tam cung về ngụ ở Khiêm Lăng.

Đến khi Đồng Khánh kế vị, quân đội Pháp trao trả lại kinh thành Huế cho triều đình nhà Nguyễn thì Tam cung quay trở về Kinh thành. Khiêm hoàng hậu về lại cung Trường Ninh, về sau đổi tên là cung Trường Sanh trong Hoàng thành Huế.

Đời Đồng Khánh, tháng 3 năm Đinh Hợi (1886) vua có dụ rằng “… Kính nghĩ thánh mẫu, làm hoằng đức phúc, tĩnh mục làm phép giúp hoàng khảo Dực Tôn Anh hoàng đế nội trị 36 năm…Trước đây qua tôn nhân, đình thần kêu xin tấn gia tôn hiệu.Từ chỉ không nhận, thực là đức khiêm quang, không thể hình dung được… Nay tôn thân đình thần hai ba lần xin, trẫm lập tức đem việc tâu lên; nay được chuẩn y về sự nghi tấn tôn, nên làm thế nào cho phần việc đều chiểu lệ làm, để yên lòng ta một người hiếu phụng, hợp nguyện vọng muôn họ tôn sùng”.

Ngày 27 tháng 4 năm 1886 vua Đồng Khánh cùng quần thần đem sách vàng, ấn vàng làm lễ tấn phong bà với huy xưng là Trang Ý Hoàng Thái hậu.

Đến đời Thành Thái năm thứ nhất (1889) vua lại thân chinh cùng quần thần dâng sách vàng, ấn vàng và tấn tôn bà với huy xưng là Trang Ý Thuận Hiếu Thái hoàng Thái hậu. Sau lễ tấn phong, vua Thành Thái cho ban ân chiếu dụ rằng : “Vua nhờ mẫu hậu, để dạy dân hiếu với mẹ cha… Kính nghĩ, Hoàng tổ mẫu Trang Ý thái hoàng Thái hậu bệ hạ tư chất thuần túy, khuôn phép đoan trang… Ơn khắp nước nhà, lợi đến xã tắc. Vâng Cảnh Thôn Thuần hoàng đế ta theo di chiếu dâng tôn xưng. Tiếng tốt kinh thất sáng thân sách trước…”

Tháng 4 năm 1903, Trang Ý Thái hoàng Thái hậu băng, thọ 75 tuổi, được an táng ở Vạn vạn niên bên tả Khiêm Thọ lăng Tự Đức, vua Thành Thái dâng tôn thụy là Lệ Thiên Phụ Thánh Trang Ý Thuận Hiếu Cần Thứ Ôn Từ Hiền Minh Tĩnh Thọ Anh Hoàng hậu. Bà được phối thờ án thứ hai bên trái trong Thế Miếu và điện Phụng Tiên.

Năm Ất Dậu (1885), vua Đồng Khánh gia phong thân phụ bà làm Lệ Quốc công, đích mẫu Bạch thị và sinh mẫu Trần thị được phong làm Lệ Quốc phu nhân, cho dựng nhà thờ gọi là Lệ Quốc Công từ. Năm Bính Tuất (1886) lại truy phong các đời trước trong dòng họ của bà, ban thụy cho đích mẫu, sinh mẫu, lập nhà thờ họ là Tích Chỉ từ và cho sửa sang các phần mộ tổ tiên.

Dực Tôn Lệ Thiên Anh hoàng hậu từ thân phận Phủ thiếp, Cẩn phi, Thuần phi, Trung phi rồi Hoàng Quý phi, suốt 36 năm giúp Tự Đức lo việc nội trị, hiếu kính Nghi Thiên Chương hoàng hậu. Khi Tự Đức mất, di chiếu tôn làm Hoàng hậu nhưng nhiều lần không thành, lại trải qua thời kì “Tứ nguyệt tam vương” đầy biến động, bôn ba theo thiếu đế ra Quảng Trị về Kiêm Lăng, cũng được xem là một trong những hoàng hậu uy vọng nhất Nguyễn triều. Cuộc đời bà, như sử sách từng chép là “Nghi thơm nết tốt, nghìn thu bút son sáng ngời; nêu tốt tỏ hay, muôn thuở ngọc cầu rực rỡ. Tôn xưng là trời để viếng, vì sáng mặt trăng…”

Lý Huệ Tông Thuận Trinh Hoàng hậu Linh Từ Quốc mẫu Trần thị

[Linh Từ quốc mẫu – một trong những Hoàng hậu ảnh hưởng lớn nhất lịch sử Việt Nam]

Câu chuyện về cuộc bi kịch của Lý Chiêu Hoàng khiến nhiều người thương cảm, và những nhân vật liên quan đều rất được chú ý, trong đó không thể không nói đến mẹ ruột của Chiêu Hoàng, bà Linh Từ quốc mẫu.

Sinh ra là con gái thứ 2 của gia tộc Tức Mặc Trần thị, không ai biết tên bà, chỉ gọi đơn giản là [Nhị Nương; 二娘]. Khi Lý Huệ Tông còn là Thái tử và chạy đến vùng đất Lưu Gia noi cha bà là Trần Lý cai quản, Trần Nhị Nương do có nhan sắc được Huệ Tông nạp làm Phi.

Tuy là Phi, nhưng mẹ đẻ của Huệ Tông là Đàm hậu rất không thích sự “thừa nước đục thả câu” này của nhà họ Trần nên rất ghét Trần thị, và đó là nguyên nhân khi Huệ Tông về Thăng Long thì Trần Nhị Nương bị ép phải trở lại nhà mẹ đẻ. Sau khi Huệ Tông lên ngôi, Hoàng đế bất chấp sự can ngăn của Đàm Thái hậu mà cho đón Trần thị về cung, nhưng chỉ có thể phong làm Nguyên phi.

Và đây là quãng thời gian đày đọa nhất của Trần Nhị Nương. Dù Lý Huệ Tông tỏ ra che chở, nhưng dưới áp lực của Đàm Thái hậu, Trần Nhị Nương đã bị phế làm Ngự nữ trong khi phụ thân và huynh trưởng của bà dấy quân chống lại triều đình công khai.

Sự an toàn của Trần Nhị Nương bị đe dọa nghiêm trọng bởi Đàm Thái hậu, khi vào cuối năm Ất Hợi (1215), Trần Ngự nữ được đoán là đang hoài long thai.

Cả mừng, vào đầu năm Bính Tý (1216), Huệ Tông ra chỉ phong Trần thị làm Thuận Trinh phu nhân. Dẫu đối với một cung phi, mang long thai là một đại hỉ sự, nhưng đối với Trần thị thì bà đã suýt mất mạng trước sự điên cuồng của Thái hậu. Nếu không liều mạng khuyên Huệ Tông quay về với anh trai Trần Tự Khánh, hẳn Trần Nhị Nương đã chết vùi trong những âm mưu của Thái hậu. Tháng 6 năm đó, tại bãi Cửu Liên, Trần thị hạ sinh Hoàng trưởng nữ, Thuận Thiên công chúa.

Dẫu chỉ sinh hạ một vị công chúa, song Huệ Tông trước sự lớn mạnh của nhà Trần, vẫn phong Thuận Trinh phu nhân làm Hoàng hậu, phong Tự Khánh làm Thái uý phụ chính, cho anh trai Tự Khánh là Trần Thừa làm Nội thị phán thủ. Năm Mậu Dần (1218), 2 năm sau khi làm Hoàng hậu, Trần Nhị Nương lại sinh hạ Hoàng thứ nữ Chiêu Thánh công chúa, tức là Lý Chiêu Hoàng tương lai.

Dưới sự dàn xếp của bà, cùng Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ và Thái úy phụ chính Trần Thừa, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho nhà Trần, trở thành Chiêu Thánh hoàng hậu của nhà Trần. Và khi Chiêu Thánh hậu không con, bị phế, và Thuận Thiên trở thành Kế hoàng hậu, sinh ra Trần Thánh Tông.
.
Cuộc đời bà đầy thăng trầm, cũng chính vì thế khiến bà trở nên cứng rắn thậm chí là sắt đá với nhà Lý. Việc của bà phù trợ nhà Trần đáng kể, nhưng việc bà đứng ra dàn xếp cuộc hôn nhân của 2 người con gái khiến hậu thế chỉ trích bà là người máu lạnh và tàn nhẫn.

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết về bà như sau: “Linh Từ trước lấy Lý Huệ Tông là bất chính, sau lấy Trần Thủ Độ là thất tiết. Thế nhưng con gái bà là Chiêu Hoàng nhường ngôi cho nhà Trần. Thuận Thiên lại là Hoàng hậu của Thái Tông, sinh ra Thánh Tông. An Sinh vương có hiềm khích với Thái Tông, nhưng Linh Từ đã ra sức hòa giải, nhờ đó mà anh em lại tình nghĩa như xưa. Đến khi người Nguyên tắt đường vào cướp, kinh thành thất thủ, Linh Từ ở Hoàng Giang, giữ gìn hoàng thái tử, cung phi, công chúa và vợ con các tướng soái thoát khỏi giặc cướp, lại khám xét thuyền các nhà chứa giấu quân khí đều đưa dùng vào việc quân. Công của bà giúp nhà Trần trong việc nội trị thì nhiều mà phần báo đáp nhà Lý thì không được bằng. Thế mới biết trời sinh Linh Từ là để mở nghiệp nhà Trần. Việc thì giống như Đồ Sơn dấy nhà Hạ, mà đức thì không giống. Đạo biến của trời như thế đấy, huyền vi thay!”

Chiêu Nghi Liệt Phu Nhân

Chiêu Nghi Liệt Phu Nhân Trần thị, húy là Trần Thị Xạ, người huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình, nữ nhi Khám Lý Năng Tài Hầu (không rõ tên)

Ngày Thế Tông ở Thạnh cung bà 20 tuổi, vì người đẹp nết tốt, được vào hầu nơi tiềm để. Tính cơ cảnh, nhanh nhẹn, khéo đón ý tứ ở nét mặt, sớm khuya kính cẩn, không trái ý chúa bao giờ. Bà tính thanh nhã thích tu hành. Mỗi khi lui chầu, thường đến chùa, thắp hương, lễ Phật. Năm Mậu Ngọ (1738) chúa nối ngôi, Trần thị được phong làm Quý nhân, ngày càng thêm yêu quý. Sinh 4 hoàng nam: trưởng là Kính, thứ hai là Bản, thứ ba là Tuấn, thứ tư là Yến và 2 hoàng nữ. Ngày 22 tháng 7 năm Canh Ngọ (1750), mùa thu, bà mất, thọ 35 tuổi. Bà là người thuần thục cẩn thận, nói và làm đều có phép tắc, thông thạo nội huấn, Lúc mới ốm, sợ chúa săn sóc, bà nghiêm dặn những người ở bên không cho chúa biết. Đến lúc ốm nặng, còn gượng dậy ăn uống, không trối trăn một lời nào. Khi bà hoăng, Chúa thương tiếc lắm, sắc tặng Chiêu Nghi Liệt Phu Nhân, thụy là Từ Mẫu, táng ở xã Dương Xuân, sai văn thần làm văn bia khắc vào đá dựng lên mộ, đến nay hãy còn.

Huệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư

Huệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư Nguyễn thị, húy là Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, sinh năm Giáp Dần (1734), nữ nhi Thái bảo Dận Quận công Nguyễn Phúc Điềm (hoàng tử thứ 12 của Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu)

Bà lúc mới vào cung, rất được yêu quý, sinh 2 hoàng tử, hoàng trưởng tử là Diệu, tặng Thiếu bảo Quận công, hoàng tử thứ hai tức là Duệ Tông Hiếu Định Hoàng Đế. Từ khi Nguyễn thị nhập cung đã trở thành sủng phi của Hiếu Vũ Hoàng đế, huynh trưởng của bà là Phúc Viêm được phong làm Chưởng thủy cơ, em là Phúc Nghiễm, giữ chức Nội hữu, Chưởng dinh quản Bộ Lại, Bộ Binh, lãnh Tả phụ Chưởng phụ sự dinh Quảng Nam.

Loạn năm Giáp Ngọ (1774) Nguyễn thị đi tu ở chùa Phước Thành (Làng An Cựu, Hương Thủy, Thừa Thiên). Năm Gia Long thứ 3 (1804) mùa hạ, bà mất. Sách tặng làm Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư, hiệu là Thiệu Long giáo chủ, táng ở xã An Cựu (thuộc huyện Hương Thủy). Gia Long năm thứ 4 (1805), cấp điền 15 mẫu. Tôn Thất Sài coi việc thờ cúng.

Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng hậu

Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng hậu Trương thị, húy là Trương Thị Dung, người huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nữ nhi Chưởng cơ Trương Văn Sáng và phu nhân Tống thị. Lúc mới vào hầu nơi tiềm để, Hậu được phong làm Hữu Cung tần. Tính e thẹn cẩn thận, dạy bảo nội chức, có phong độ hậu phi đời xưa. Sinh được 3 hoàng nam và 1 hoàng nữ; Hoàng trưởng tử là Nguyễn Phúc Chương, tặng Thành Công, con thứ hai là Hưng Tổ Hoàng Đế, con thứ ba là Nguyễn Phúc Dực, tặng Ý Công, con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Đào. Ngày 6 tháng 10 năm Bính Thìn (1736) Hậu băng, thọ 25 tuổi, được phong tặng là Tu Nghi Phu Nhân sau truy tặng là Ôn Thành Trương Thái Phi, táng lăng Vĩnh Thái (thuộc sơn phận xã Dương Xuân, huyện Hương Thủy).

Gia Long năm thứ 5, Bính Dần (1806) lại truy tôn là Ôn Thành Huy Ý Trang Từ Dục Thánh Hiếu Vũ Hoàng Hậu.

Bài sách văn đại lược rằng: Bà Đồ Sơn mở nhà Hạ, bà Hữu Nhung gầy nhà Thương. Đẹp cùng sánh với người đời trước lễ nên tôn để hậu báo đền. Kính nghĩ, Ôn Thành Trương Thái Phi điện hạ: Bốn đức gồm đủ, trăm nết đều hay, bao hàm rộng sánh đế, trinh thuần đón lấy trời. Tiết tấu ngọc cư ngọc vũ, êm vang ở công đường, lợi ích cái tóc tấc da, để Phước cho cháu chắt. Cho nên nay trên nhờ thiêng liêng nối dài ngôi báu, bèn theo lễ to, kính dâng tên quý. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là Ôn Thành Huy Ý Trang Từ Dục Thánh Hiếu Vũ Hoàng Hậu, thờ chung ở gian tả tứ nhà Thái Miếu”.

Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng hậu

Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng hậu Trương thị, húy là Trương Thị Thư, người huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nữ nhi Trấn biên doanh lưu thủ Chưởng doanh Trương Phước Phan, tặng Quốc công. Hậu lúc mới vào hầu nơi tiềm để được phong làm Nhã cơ, sinh 2 hoàng nam: trưởng là Thế Tông Hoàng Đế; thứ là Du, lại có tên là Nghiễm, tặng Thiếu bảo quận công. Ngày 16 tháng 7 năm Canh Tý (1720) Hậu băng, thọ 22 tuổi, truy tặng Tu Dung Á Phu Nhân, thụy là Từ Ý, táng lăng Vĩnh Phong (thuộc sơn phận xã Long Hổ, huyện Hương Trà).

Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6 Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Ý Quang Thuận Thục Phi, sau thêm 2 chữ “Chiêu Hiến”.

Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) lại truy tôn làm Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ Hiếu Ninh Hoàng Hậu.

Bài sách văn đại lược rằng: “Đạo trời đất kiền khôn hợp đức, lễ tôn miếu, đế hậu cung tôn. Kính nghĩ, Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Trương Thục Phi điện hạ: tiếng hay trong sáng, đức tốt đoan trang, sao bảo vụ sáng liền thần cực, nghi hình túc mục như ngọc cư ngọc hành, khí phù dư đúc được thánh minh, dòng dõi lâu bền như thái sơn bàn thạch. Cho nên nay trên nhờ ơn thiêng thêm sáng Phước trước. Kính dâng huy xưng, để tỏ đức tốt. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là: Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ Hiếu Ninh Hoàng Hậu, thờ chung vào gian hữu tam nhà Thái Miếu”.

Bắt đầu Blog tại WordPress.com.

Lên ↑

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu