Chính sách Ngụ binh ư nông

Ngụ binh ư nông (chữ Hán: 寓兵於農), theo nghĩa tiếng Việt là “gửi binh ở nông: gửi quân vào nông nghiệp, cho binh lính lao động, sản xuất tại địa phương trong một khoảng thời gian xác định”, là chính sách xây dựng lực lượng quân sự thời phong kiến ở Việt Nam, áp dụng từ thời nhà Đinh đến thời Lê Sơ.

Đây là chính sách xây dựng quân đội gắn liền với nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Nhà Đinh là triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam áp dụng chính sách này. Bắt đầu từ thời Lý, quân đội được xây dựng mang tính chính quy và phân cấp thành quân triều đình (cấm quân đóng ở trong và xung quanh kinh thành, chịu trách nhiệm canh gác cung điện, phủ quan…, còn gọi là “thiên tử binh”) và quân địa phương (quân ở các lộ, đạo, dân binh ở hương, động, sách… còn gọi là “lộ quân” hay “sương quân”). Sang thời Trần có thêm quân của các vương hầu nhưng số lượng không đáng kể. Sang thời Hậu Lê thì lực lượng này bị xoá bỏ, chính sách ngụ binh ư nông áp dụng cả với cấm quân ở kinh thành. Từ thời Mạc, áp dụng chế độ “lộc điền” (hay còn gọi là “binh điền”) nhằm ưu đãi cho lực lượng quân đội, chính sách ngụ binh ư nông không còn được áp dụng. Tới khoảng năm 1790, một dạng của phép ngụ binh ư nông được Nguyễn Ánh thi hành ở khu vực Gia Định, miền cực nam Đại Việt, theo đó binh lính cũng được huy động vào việc sản xuất nông nghiệp. Họ vừa tham gia chiến đấu vừa được khuyến khích lẫn bị bắt buộc cầy cấy để tận dụng các mảnh đất bị bỏ hoang vì chiến tranh.

Cách thức tuyển binh được áp dụng tuỳ từng giai đoạn và từng loại quân như cấm quân, lộ quân hay phủ quân… Công việc này do các quan võ ở địa phương trực tiếp thực hiện dựa trên sổ hộ tịch mà các xã quan lập ra. Hàng năm các xã quan có trách nhiệm lập sổ hộ tịch, tiến hành kiểm kê dân đinh ở địa bàn mình quản lý. Trên cơ sở đó, xã quan phân dân sài thành các hạng: tôn thất; quan văn, võ; người hầu hạ; dân lưu xứ; hoàng nam; long lão (người già yếu); người tàn tật. Nhà Lý gọi những đinh nam từ 18 tuổi trở lên đến tuổi binh dịch được gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên gọi là đại hoàng nam. Nhà Trần thì gọi từ 18 đến 20 tuổi là Tiểu hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên là Đại hoàng nam.

Tính quân luật được thực hiện nghiêm ngặt trong việc tuyển binh nhằm tránh hiện tượng khai man, bao che, hối lộ để trốn lính. Ngoài ra triều đình còn thường tiến hành các cuộc thanh tra ở các địa phương để nắm bắt tình hình, kịp thời chuẩn bị phòng khi đất nước có chiến tranh. Thời Trần, những người làm gian lận sổ hộ tịch để che giấu dân định bị rất nặng, người đào ngũ có thể bị chặt ngón chân hoặc thậm chí xử tử như tội phản quốc. Các trường hợp miễn quân dịch được quy định cụ thể như: không lấy con trai độc nhất, không lấy con quan từ Bát phẩm trở lên. Do sự chặt chẽ đó nên quân số được huy động vào mỗi đợt chiến tranh không có sự chênh lệch quá lớn giữa số liệu thực tế và trên sổ sách.

Việc phiên cấp quân địa phương (chia phiên và thời gian tập luyện) khá thuần nhất và đóng vai trò nòng cốt trong chính sách “ngụ binh ư nông”. Sau mỗi lần tuyển binh, quân địa phương được chia thành nhiều “phiên” (một phiên là một đơn vị quân, số lượng tuỳ vào từng địa phương, cốt lấy người khỏe mạnh đủ có thể tham gia quân ngũ). Các phiên sẽ thay nhau tập trung tập luyện tại doanh trại trong một khoảng thời gian nhất định. Mỗi tháng sẽ tiến hành đổi phiên một lần. Việc thay phiên thường được thực hiện vào mồng Một hoặc ngày Rằm. Như vậy trong thời bình, binh lính chia nhau vừa sản xuất nông nghiệp ở địa phương vừa tập luyện ở doanh trại.

Nhu cầu bảo vệ đất nước và bảo vệ chính quyền cai trị cần một lực lượng quân đội hùng hậu. Tuy nhiên, nhu cầu nhân lực để sản xuất nông nghiệp cho đời sống cũng rất lớn. Vì vậy việc đưa quân về địa phương luân phiên cày cấy giúp lực lượng này tự túc được về lương thực, bớt gánh nặng về lương thực nuôi quân cho triều đìnhNgụ binh ư nông là việc liên kết hài hoà giữa việc quân sự và nông nghiệp, giữa kinh tế và quân sự, chuyển hóa nhanh từ thời bình và sang thời chiến khi cần. Nhờ chính sách này, triều đình có được lực lượng quân đội hùng mạnh, đông đảo trong khi sản xuất nông nghiệp vẫn được duy trì. Thời Lý có số quân tham chiến chống nhà Tống khoảng 10 vạn người, thời Trần khi có chiến tranh chống quân Nguyên có hơn 20 vạn quân, sang thời Lê sơ khi có chiến tranh có thể huy động 26-30 vạn quân.

Chính sách ngụ binh ư nông phản ánh tư duy nông binh bất phân (không phân biệt quân đội và nông dân), đâu có dân là đó có quân, phù hợp với điều kiện xây dựng nền quốc phòng của một nước đất không rộng, người không đông, cần phải huy động tiềm lực cả nước vừa sản xuất, vừa đánh giặc.

Tới những thời đại sau thời Lê sơ, chính sách này không còn được áp dụng do tình trạng cát cứ và chiến tranh triền miên trong cả nước. Ngay như thời Tây Sơn, thời đại mà trình độ quân sự phát triển rất cao, yêu cầu tác chiến thường xuyên không cho phép những người lãnh đạo duy trì chính sách này.

Loạn Tam Vương

Loạn Tam vương (三王之亂 Tam vương chi loạn) là một cuộc nổi loạn do 3 hoàng tử nhà Lý gây ra năm 1028, ngay sau khi Lý Thái Tổ băng hà và Thái tử Khai Thiên vương Lý Phật Mã nối ngôi. Loạn Tam vương do các hoàng tử là Vũ Đức vương (武德王), Dực Thánh vương (翊聖王) và Đông Chinh vương Lý Lực (東征王) gây ra do muốn giành ngôi với Khai Thiên vương.

Năm 1028 Thái Tổ Hoàng đế băng hà, chưa tế táng xong thì các hoàng tử là Vũ Đức vương (武德王), Dực Thánh vương (翊聖王) và Đông Chinh vương (東征王) đã đem quân đến vây thành để tranh ngôi của Thái tử.

Bấy giờ các quan đứng đầu là Lý Nhân Nghĩa xin Thái tử Phật Mã cho đem quân ra thành quyết được thua một trận. Khi quân của Thái tử và quân các vương đối trận, thì quan Vũ vệ tướng quân là Lê Phụng Hiểu rút gươm ra chỉ vào Vũ Đức vương mà bảo rằng:

Các người dòm ngó ngôi cao, khi dễ tự quân, trên quên ơn tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này!

Nói xong tướng quân Lê Phụng Hiểu chạy xông vào chém Vũ Đức vương ở trận tiền. Quân các vương trông thấy sợ hãi bỏ chạy cả. Dực Thánh vương và Đông Chinh vương cũng phải chạy trốn.

Cũng trong năm 1028, nghe tin Vũ Đức vương bị giết trong cuộc chiến ngai vàng, Khai Quốc vương Lý Long Bồ đóng ở phủ Trường Yên (Hoa Lư) lòng càng bất bình, cậy có núi sông hiểm trở bèn đem phủ binh làm phản. Lý Thái Tông thân đi đánh. Ngày đến Trường Yên, Khai Quốc vương đầu hàng. Vua hạ lệnh rằng: Ai cướp bóc của cải của dân thì chém. Quân sĩ nghiêm theo, không mảy may xâm phạm. Đại quân vào thành Thăng Long, dân trong thành đem dâng biếu trâu rượu đứng đầy đường. Vua sai sứ tuyên chỉ động viên, cả thành vui to. Vua từ phủ Trường Yên về, xuống chiếu tha tội cho Khai Quốc Vương, vẫn cho tước như cũ.

Dẹp xong loạn Tam vương, ngày Kỷ Hợi (tức ngày 1 tháng 4 năm 1028), Thái tử Lý Phật Mã lên ngôi, tức là Lý Thái Tông. Ông đổi niên hiệu là Thiên Thành (天成). Về sau, Dực Thánh vương và Đông Chinh vương xin về chịu tội. Thái Tông nghĩ tình cốt nhục bèn tha tội cho, và lại phục chức cũ cho cả hai người.

Cũng vì sự phản nghịch của Tam vương, Lý Thái Tông mới lập lệ: cứ hàng năm, các quan phải đến đền Đồng Cổ (ở làng Yên Thái, Hà Nội) làm lễ đọc lời thề rằng:

Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung, xin quỷ thần làm tội.

Các quan ai trốn không đến thề, phải phạt 50 trượng.

Loạn Tam vương đã khiến cho một người em của Lý Thái Tông thiệt mạng. Đó chính là một vết đen trong đời của ông, giống như Đường Thái Tông năm nào với Sự biến cửa Huyền Vũ. Tuy nhiên, giống như Đường Thái Tông Lý Thế Dân, Lý Thái Tông đã bắt tay ngay vào việc phát triển Đại Cồ Việt và xã tắc bắt đầu hưng thịnh từ đây. Tuy nhiên, hai vương làm loạn còn lại ngoài Vũ Đức Vương đều được Lý Thái Tông tha tội.

Mạc Đĩnh Chi – Hoa sen trong giếng ngọc

Mạc Đĩnh Chi (莫挺之, 1272 – 1346), tên tự là Tiết Phu (節夫), hiệu là Tích Am (僻庵) là một quan đại thần triều Trần. Năm 1304, đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, ông thi đỗ trạng nguyên.  Nhờ thông minh, hiểu biết sâu rộng, ông nhiều lần được cử đi sứ sang Trung Quốc. Ngoài ra, ông còn được biến đến như là tổ tiên trực hệ của các đời Hoàng đế nhà Mạc, được Mạc Thái Tổ truy tôn miếu hiệu là Viển Tổ, thụy là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế (建始欽明文皇帝).

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Mạc Đĩnh Chi quê ở xứ làng Bàng Hà và Ba Điểm. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1287 đã theo hàng quân Nguyên. Nhà Trần sau chiến thắng đã trị tội cả làng, bắt dân làm lính hầu cho các vương hầu nhà Trần, không cho làm quan, nhưng sau này năm 1304, Mạc Đĩnh Chi vẫn được ứng thi và làm quan.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí, Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, Hải Đông (tỉnh Hải Dương hiện nay), tổ tiên là Mạc Hiển Tích đỗ khoa Thái học sinh năm Bính Dần đời vua Lý Nhân Tông. Ông thông minh hơn người, nhưng tướng mạo xấu xí.[1]

Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc mở học đường, tập hợp văn sĩ bốn phương, chu cấp cho ăn mặc, đào tạo nhiều nhân tài, trong đó có Mạc Đĩnh Chi.Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: Ích Tắc là con thứ của Thượng hoàng, thông minh hiếu học, thông hiểu lịch sử, lục nghệ, văn chương nhất đời. Dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ, không nghề gì không thông thạo; từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài như Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châu v.v… gồm 20 người, đều được dùng cho đời.

Năm 1304 đời vua Trần Anh Tông, triều đình mở khoa thi Cống sĩ lấy 44 người đỗ Thái học sinh. Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên; Bùi Mộ đỗ bảng nhãn, Trương Phóng đỗ thám hoa. Khi mới đỗ nhà vua chê ông xấu, Mạc Đĩnh Chi bèn làm bài phú Ngọc tỉnh liên (Sen trong giếng ngọc) để tự ví mình với sen. Trong bài phú có đoạn:

Há rằng trống rỗng bất tài

Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.

Nếu ta giữ mực thẳng ngay.

Mưa sa gió táp xem nay cũng thường

Vua Trần Anh Tông xem rồi khen hay, thăng làm Thái học sinh dũng thủ, sung chức Nội thư gia. Thời vua Trần Minh Tông, Mạc Đĩnh Chi càng được tin dùng hậu đãi. Ông là người liêm khiết, vua biết muốn thử ông, sai người đem 10 vạn quan tiền để trước cửa nhà ông. Sáng hôm sau Đĩnh Chi đem túi tiền lên triều, tâu nhà vua, Vua nói: Không ai nhận tiền ấy, thì cho khanh lấy mà chi dùng.

Thời vua Trần Hiến Tông ông làm chức Nhập nội hành khiển, Lang trung hữu ty, chuyển sang làm Lang trung tả ty trải đến chức Tả bộc xạ ở hàng quan to.

Năm 1308 đời vua Trần Anh Tông, Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, mừng vua Nguyên Vũ Tông mới lên ngôi. Đó là lúc mới 20 năm sau chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ 3 (1287-1288), tuy nhiên trong hoạt động bang giao ông đã tỏ rõ khí phách và tài năng của mình. Hoạt động và tài năng văn chương của ông đã để lại nhiều giai thoại nổi tiếng.

Tổ tiên là Mạc Hiển Tích đỗ khoa Thái học sinh năm Bính Dần đời vua Lý Nhân Tông sinh ra Mạc Hiển Đức, Hiển Đức sinh Hiển Tuấn, Hiển Tuấn sinh Đĩnh Kỳ. Mạc Đĩnh Kỳ sinh Mạc Đĩnh Chi. Mạc Đĩnh Chi sinh ra Mạc Cao, Mạc Cao sinh ra Mạc Thuý, Mạc Thuý sinh ra Mạc Tung, dời sang ở xã Lan Khê, huyện Thanh Hà rồi sinh ra Mạc Bình, Mạc Bình lại dời sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi trú tại đó. Bình sinh ra Mạc Hịch, Mạc Hịch lấy con gái trưởng của Đặng Xuân người cùng xã, sinh được ba con trai, con trưởng là Mạc Đăng Dung, con thứ là Mạc Đốc Tín, con út là Mạc Quyết. Năm 1406, nhà Minh xâm lược, Mạc Địch, Mạc Thúy, Mạc Viễn và Nguyễn Huân mạo nhận là họ Mạc đều là những kẻ bất đắc chí, đón hàng quân Minh, người Minh đều trao cho quan chức. Sau Mạc Thúy làm đến Tham chính; Mạc Địch làm đến Chỉ huy sứ; Mạc Viễn làm đến Diêm vận sứ; Huân làm đến Bố chính; (Thúy, Địch, Viễn là cháu Mạc Đĩnh Chi)

Cuộc Nam chinh đầu tiên của người Việt

Năm 972, vua Chiêm Jaya Indravarman Iraq từ trần, con là Ba Mỹ Thuế, tức Paramesvaravarman I (972-982), lên kế vị. Nội bộ của Chiêm Thành trong giai đoạn này rất hỗn loạn, năm 978, một người tên Kinan Tache mang phẩm vật sang Trung Hoa triều cống để được phong làm vua Chiêm Thành nhưng không được nhà Tống chấp nhận. Trong lúc đó, lợi dụng tình trạng loạn lạc tại Đại Cồ Việt (loạn 12 sứ quân, từ năm 944 đến 972), quân Chiêm Thành nhiều lần tiến lên đánh phá những quận huyện ở phía Nam, gây nhiều thiệt hại nhân mạng và tài sản.

Năm 979, hay tin Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, Ngô Nhật Khánh, một sứ quân Đại Cồ Việt lưu vong, thuyết phục vua Paramesvaravarman I dẫn hơn một ngàn chiến thuyền từ Chiêm Thành vào chiếm Hoa Lư, nhưng không thành do gặp bão to bị đắm nhiều. Ngô Nhật Khánh chết đuối, quân Chiêm phải rút về. Tình hình chính trị của Đại Cồ Việt trong giai đoạn này cũng không lấy gì làm sáng sủa : tân vương là Đinh Toàn còn quá nhỏ (6 tuổi), thái hậu Dương Vân Nga không thể một mình đảm đương việc nước. Phía Bắc quân Tống lăm le tiến xuống, phía Nam quân Chiêm sẵn sàng đánh lên.

Năm 980, Dương Vân Nga đưa Lê Hoàn làm vua Đại Cồ Việt, hiệu Lê Đại Hành. Tân vương sai sứ sang Trung Hoa báo tin, dâng vài tù binh Chiêm vừa bắt được làm quà biếu. Vua Tống nhận tặng phẩm nhưng lại muốn duy trì ảnh hưởng tốt với Chiêm Thành, sai thống đốc Quảng Châu cho những tù binh Chiêm ăn uống rồi thả về nước.

Năm 982, sau khi đánh lui quân Tống, Lê Hoàn cử Ngô Tử Canh và Từ Mục đi sứ Chiêm Thành nhưng bị vua Chiêm bắt giữ. Vua Lê Đại Hành tức giận, sai đóng chiến thuyền, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém Paramesvaravarman I tại trận. Chiêm Thành thua to. Quân Đại Cồ Việt bắt sống được binh lính nhiều vô kể, cùng là tài nữ trong cung trăm người và một nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn; san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư.

Triều đại Indrapura tiêu vong từ đây. Indravarman IV được các cận thần tôn lên làm vua, chạy vào Panduranga (khu vực nay là Ninh Thuận và Bình Thuận) lánh nạn.

Sau chiến thắng này, văn hóa và nghệ thuật (nhất là âm nhạc) Chiêm Thành chính thức được du nhập vào đời sống cung đình và dân gian Việt. Đền đài, dinh thự tại Hoa Lư được trang trí bằng những chiến lợi phẩm do các thợ Chiêm Thành chạm trổ và sản xuất ra.

Phạm Bạch Hổ

Phạm Bạch Hổ (范白虎; 910 – 972) tên xưng Phạm Phòng Át (范防遏), là võ tướng các triều  Ngô và triều Đinh và là một sứ quân trong loạn 12 sứ quân cuối thời. Ông là người gốc Nam Sách, Hải Dương nhưng được sinh ra và lớn lên ở Đằng Châu, Hưng Yên.

Phạm Bạch Hổ từng tham gia trận chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Ngô Vương băng, ông chiếm giữ đất Đằng Châu và trở thành một tướng trong loạn 12 sứ quân (966 – 968).

Theo Đại Nam Nhất thống chí, Phạm Bạch Hổ sinh ngày 10 tháng 1 năm Canh Ngọ (910), phụ thân là Phạm Lệnh Công người lộ Nam Sách Giang, là một công thần dưới triều Ngô vương. Lệnh Công có tiệm buôn ở Đằng Châu, tại đây ông có vợ và sinh ra Phạm Bạch Hổ. Tương truyền mẫu thân ông nằm mộng thấy Sơn Tinh và Hổ trắng mà có mang nên đặt tên ông là Bạch Hổ. Lớn lên Bạch Hổ có thân hình vạm vỡ, mạnh mẽ như hổ, thông minh hơn người, văn võ song toàn.

Ông sinh ra trong một dòng họ giàu truyền thống võ nghệ, đời đời làm hào trưởng vùng Trà Hương. Nội tổ phụ là Phạm Chí Dũng vốn là Hồng châu tướng quân. Huynh trưởng  Phạm Man là Tham chính đô đốc đời Nam Tấn vương Ngô Xương Văn. Các cháu ông như Phạm Hạp và Phạm Cự Lang đều là các tướng giỏi thời Đinh được người đời sau ca tụng là “Giao Châu thất hùng”. Nữ nhi Phạm Thị Ngọc Dung là thê của Ngô Xương Ngập và sinh ra Ngô Xương Xí, sau trở thành một trong 12 sứ quân. Phạm Bạch Hổ từng làm hào trưởng đất Đằng Châu, theo phò tá Dương Đình Nghệ.

Năm Tân Mão 931, ông giúp chủ tướng đánh đuổi Lý Tiến, thứ sử Giao Châu của nước Namvà sau đó đánh bại Trần Bảo do Lưu Nghiễm cử sang cứu viện. Dương Đình Nghệ xưng Tiết độ sứ, dùng ông làm nha tướng. Khi Kiều Công Tiễn giết chết chủ tướng Dương Đình Nghệ đoạt chức rồi cầu cứu quân Nam Hán sang xâm lược. Phạm Bạch Hổ đã phối hợp với Ngô Quyền đem quân tiêu diệt Kiều Công Tiễn và đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm Mậu Tuất (938). Nhà Ngô phong ông chức Phòng Át Tướng công, trấn giữ toàn cõi Hải Đông (khu vực nam Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay). Khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha cướp ngôi vua của Ngô Xương Ngập. Vùng núi Hun Sơn của cha con ông là nơi che chở cho Ngô Xương Ngập 2 lần trốn thoát khỏi truy lùng của họ Dương. Sau khi Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi giúp Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha, Phạm Bạch Hổ tham gia giúp Hậu Ngô Vương. Năm 965, Hậu Ngô Vương mất, các hào kiệt trong nước nổi lên cát cứ từng vùng. Phạm Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu và là một trong mười hai sứ quân thời đó. 

Ngoài việc chiếm đóng Hải Đông, Phạm Phòng Át còn mở rộng lãnh địa bằng các cuộc tấn công về phía nam thuộc lãnh địa Kỳ Bố Hải Khẩu của sứ quân Trần Lãm và về phía bên kia sông Hồng tại các vùng Hà Nam, Nam Định ngày nay.

Đinh Bộ Lĩnh được sứ quân Trần Lãm  giao toàn bộ binh quyền, mang quân đánh dẹp loạn 12 sứ quân. Đầu năm 966, Phạm Bạch Hổ mang quân về Hoa Lưa theo hàng Đinh Bộ Lĩnh, được phong là Thân vệ Đại tướng quân. So với 2 tướng cũ nhà Ngô khác là Kiều Công Hãn và Đỗ Cảnh Thạc vẫn kiên quyết chống cự ngay cả khi các hậu duệ nhà Ngô đã hàng phục và về với nhà Đinh, có thể Phạm Bạch Hổ là người ít có tham vọng bá vương hơn nhưng có con mắt tinh đời, biết nhìn nhận thời thế nên thoát khỏi cảnh binh đao, chết chóc. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, phong Phạm Bạch Hổ chức Thân vệ Đại tướng quân.

Ngày 16 tháng 11 năm Nhâm Thân (972), Phạm Bạch Hổ mất tại quê nhà, thọ 62 tuổi. Đinh Đế đã sắc cho nhân dân lập đền thờ, các triều đại đều phong tặng ông là: “Khai thiên hộ quốc tối linh thần”. Tuy nhiên một số nguồn tin khác cho biết ông còn sống đến tận khi Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế thay nhà Đinh, tức năm 983, thọ 73 tuổi.

Thiên Thụy Công chúa

Trưởng công chúa, không rõ tên gì, phong hào [Thiên Thụy; 天瑞], trong đó “Thiên” là từ mang ý chỉ về những thứ thuộc về trời, “Thụy” có nghĩa là các loại ngọc, hoặc điềm lành may mắn, suy ra có nghĩa là “ngọc bích của trời” hoặc “điềm lành từ trên trời”.

Trưởng chúa là con gái lớn của Trần Thánh Tông, dựa vào địa vị và phong hào, có lẽ chúa vốn là “Đích công chúa”, mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu. Nếu thế chúa là em gái cùng mẹ của Trần Nhân Tông.

Liệt truyện về Trưởng chúa lớn nhất là vụ việc chúa tư thông với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, trong khi Trưởng chúa đã đính hôn với Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn. Sự việc lộ ra, Trần Khánh Dư bị định tội, còn không rõ Trưởng công chúa như thế nào.

Theo dã sử, chính anh trai Trưởng chúa đã lệnh bắt xuất gia về một vùng quê hẻo lánh ven sông Văn Úc. Điều này có lẽ là đúng, vì vào năm Mậu Thân (1308), Nhân Tông băng thệ tại Yên Tử, trước đó đã xuống núi thăm em gái. Hai anh em khứ thế trong cùng một năm ấy.

Lưỡng cung Thái hậu đấu pháp

Lý triều Anh Tông hoàng đế, đương sinh thời có khá nhiều hoàng tử. Thái tử Long Xưởng, vào thời kì cuối bị vu tội tư thông với Nguyên phi Từ thị, do đó bị bãi chức Thái tử. Chấn động triều đình.

Giữa lúc đó, Thụy Châu phu nhân Đỗ thị hạ sinh Hoàng lục tử Lý Long Trát. Hoàng tử thông minh khác thường, Đỗ thị có sủng, nên lập làm Thái tử. Sau, Anh Tông băng, Thái tử kế vị, tức Cao Tông. Tôn đích mẫu Hoàng hậu làm Chiêu Linh Hoàng Thái hậu, sinh mẫu Đỗ thị làm Chiêu Thiên Chí Lý Hoàng Thái hậu.

Trước khi băng, Anh Tông di mệnh Tô Hiến Thành làm Quyền nhiếp chính sự. Chiêu Linh Thái hậu muốn phế Cao Tông để lập Long Xưởng, nhưng bị Hiến Thành thoái từ.

Chiêu Linh Thái hậu bèn triệu gấp Phế Thái tử vào, tính mưu việc phế lập, nhưng Hiến Thành chấn chỉnh quân Túc vệ, cho chặn lại từ Ngân Hà môn. Sau ba năm mãn tang, Chiêu Linh Thái hậu tiếp tục liên lạc các cựu thần mưu việc phế lập, nhưng tất cả đều về phe của Đỗ Thái hậu, việc từ đó không thành.

Đỗ Thái hậu cho em trai Đỗ An Di làm chức Thái sư Đồng bình chương sự. Sau khi ngăn cản Phế Thái tử, Hiến Thành cũng qua đời, để lại toàn bộ quyền lực cho họ Đỗ nắm giữ. Trước khi qua đời, Tô Hiến Thành từng tiến cử người có khả năng đảm nhiệm chức vụ của mình, nhưng Đỗ Thái hậu chỉ đồng ý cho có lệ. Sau khi Hiến Thành băng, Đỗ thị hoàn toàn thay đổi quan chức theo ý của ngoại thích họ Đỗ.

Nguyễn Quang Toản (1783 – 1802)

– Con trưởng của Quang Trung, mẹ người họ Phạm (mất trước Quang Trung, khi sống được Quang Trung phong là Chánh cung Hoàng hậu, khi mất được Quang Trung truy tặng là Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần Vũ, Chánh Hoàng hậu).

– Sinh năm Quý Mão (1783), lúc nhỏ có tên là Trác, do vậy cũng có tên khác lúc nhỏ là ông hoàng Trác.

– Nối ngôi từ tháng 9 năm 1792, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Dùng cậu là Bùi Đắc Tuyên làm Thái sư Giám quốc trông coi việc trong ngoài nên dẫn đến việc Đắc Tuyên ngày càng chuyên quyền. Tin lời gian thần gièm pha, Quang Toản đã rút hết binh quyền của Trần Quang Diệu, dẫn đến việc nội bộ tướng sĩ Tây Sơn lục đục, binh lực ngày càng suy yếu.

– Năm Canh Thân (1800), Nguyễn Ánh vượt biển đánh vào Quy Nhơn, tướng Tây Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng. Năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân, Quang Toản chống giữ không nổi đành phải chạy ra Bắc Hà, đổi niên hiệu là Bảo Hưng.

– Vua ở ngôi 10 năm, sau bị Gia Long (Nguyễn Ánh) bắt và giết vào ngày 7 tháng 10 năm Nhâm Tuất (1802).

Trịnh Bính (1688)

– Con trưởng của Trịnh Vĩnh, cháu đích tôn của Trịnh Căn. Trịnh Vĩnh mất sớm nên Trịnh Căn đã có ý lập Trịnh Bách.

– Tháng 2 năm Mậu Thìn (1688), vì chú là Trịnh Bách đã mất nên được Trịnh Căn phong làm Tiết chế thuỷ bộ chư dinh chức Thái uý, tước Tấn Quốc công. Đó là chức tước của người chuẩn bị nối ngôi chúa, nhưng chưa kịp chính thức nối ngôi thì Trịnh Bính mất.

Trịnh Bách (1684)

– Con thứ của Trịnh Căn (con trưởng của Trịnh Căn mất sớm).

– Tháng 10 năm Giáp Tí (1684), được phong làm Tiết chế thuỷ bộ chư dính, chức Thái uý, tước Kiêm Quốc công. Chức ấy và tước ấy có nghĩa là từ năm 1684, Trịnh Bách bắt đầu làm những công việc của người ở ngôi chúa, dù chưa thực sự nối ngôi chúa.

Bắt đầu Blog tại WordPress.com.

Lên ↑

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu